Ở Việt Nam, di sản nghề nông được công nhận chủ yếu qua hai đường: xếp hạng di tích (cho cảnh quan như ruộng bậc thang, cho đình, đền gắn với nông nghiệp) và ghi vào danh mục di sản văn hoá phi vật thể (cho lễ hội, tập quán, tri thức dân gian). Ở cấp quốc tế có danh mục di sản của UNESCO và danh hiệu Hệ thống di sản nông nghiệp quan trọng toàn cầu (GIAHS) của FAO, riêng cho các hệ canh tác truyền thống còn sống.
Danh hiệu giúp di sản được biết đến và có cơ chế bảo vệ, nhưng không tự giữ được di sản. Bài này giải thích từng loại công nhận dùng cho cái gì, ví dụ đã có, và điều mà danh hiệu không làm thay người làng được. Năm tháng cụ thể chỉ ghi khi chắc; thông tin danh mục có thể thay đổi theo thời gian, nên tra nguồn chính thức khi cần dùng.
Xếp hạng di tích: khi một cảnh quan nông nghiệp thành danh thắng
Theo luật di sản văn hoá của Việt Nam, di tích được xếp hạng ở ba mức: cấp tỉnh, quốc gia và quốc gia đặc biệt. Bên cạnh đình, đền, chùa, di tích khảo cổ, có loại danh lam thắng cảnh, và một số cảnh quan nông nghiệp đã được xếp vào loại này.
Ví dụ nổi bật là ruộng bậc thang Mù Cang Chải, vùng Yên Bái cũ nay thuộc tỉnh Lào Cai: ruộng bậc thang ở đây được xếp hạng di tích quốc gia (danh lam thắng cảnh) năm 2007 và về sau được nâng lên di tích quốc gia đặc biệt. Ruộng bậc thang Hoàng Su Phì, vùng Hà Giang cũ nay thuộc tỉnh Tuyên Quang, cũng được xếp hạng di tích quốc gia. Đây là những trường hợp hiếm mà một cảnh quan do nhà nông tạo nên, đang được canh tác, được coi là di tích.
Điều đặc biệt là di tích loại này chỉ còn khi người dân tiếp tục làm ruộng. Một ngôi đình có thể trùng tu, còn ruộng bậc thang bỏ hoang vài năm là bờ lở, cỏ mọc, nước không giữ được. Vì vậy bảo vệ ruộng bậc thang không chỉ là cấm xây dựng, mà còn là giữ cho người làm ruộng có lý do ở lại, có thu nhập từ ruộng và từ khách đến xem.
Di sản văn hoá phi vật thể: lễ hội, tập quán và tri thức
Từ đầu thập niên 2010, Việt Nam lập danh mục di sản văn hoá phi vật thể quốc gia, trong đó có nhiều lễ hội, tập quán gắn với nông nghiệp ở các vùng: lễ hội xuống đồng, lễ cầu mùa, lễ mừng lúa mới của các dân tộc, các tập quán gắn với nghề truyền thống. Danh sách dài và được bổ sung hằng năm, nên khi cần biết một lễ cụ thể đã được ghi danh hay chưa, cách chắc nhất là tra danh mục do cơ quan văn hoá công bố.
Ở cấp quốc tế, UNESCO ghi danh các di sản phi vật thể đại diện của nhân loại. Một ví dụ gắn với văn hoá lúa nước là kéo co: năm 2015, nghi lễ và tập quán kéo co được UNESCO ghi danh dưới dạng hồ sơ chung của Việt Nam, Campuchia, Hàn Quốc và Philippines. Hồ sơ nhấn mạnh kéo co ở các cộng đồng trồng lúa thường gắn với mong ước mùa màng thuận lợi, và nhiều làng ở Việt Nam tổ chức kéo co trong hội đầu năm.
Khác với di tích, di sản phi vật thể thuộc về cộng đồng thực hành nó. Công nhận không có nghĩa là "đóng khung" lễ hội theo một kịch bản cố định; lễ hội vẫn thay đổi theo đời sống. Nguyên tắc quốc tế đặt cộng đồng ở trung tâm: chính người làng quyết định giữ gì, đổi gì, và họ phải được tham gia khi lập hồ sơ.
GIAHS là gì: danh hiệu cho cả một hệ canh tác còn sống
GIAHS, viết tắt của Globally Important Agricultural Heritage Systems, là sáng kiến do Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) khởi xướng từ năm 2002. Khác với danh mục di sản thế giới của UNESCO vốn chú trọng giá trị nổi bật của cảnh quan hay công trình, GIAHS công nhận cả một hệ nông nghiệp đang vận hành: cách dùng đất, nước, giống, tri thức, tổ chức cộng đồng và cảnh quan tạo thành từ đó.
Những hệ được công nhận sớm gồm hệ lúa – cá ở Thanh Điền (Chiết Giang, Trung Quốc) và ruộng bậc thang Ifugao ở Philippines. Ruộng bậc thang của người Hà Nhì ở Hồng Hà, Vân Nam, gần biên giới phía Bắc Việt Nam, vừa là hệ GIAHS vừa được UNESCO ghi danh di sản thế giới năm 2013. Danh sách GIAHS được bổ sung theo từng đợt; tình hình các hồ sơ của Việt Nam nên tra danh sách cập nhật của FAO.
Tiêu chí GIAHS thường xoay quanh năm điểm: hệ đó bảo đảm lương thực, sinh kế cho người dân; giữ được đa dạng sinh học nông nghiệp; có tri thức và kỹ thuật truyền thống; có giá trị văn hoá, tổ chức xã hội đi kèm; và tạo nên cảnh quan đất – nước đặc sắc. Nhiều hệ canh tác ở Việt Nam có những đặc điểm tương tự: ruộng bậc thang vùng cao, mương phai của người Thái, lúa nổi vùng lũ, vườn – ao – chuồng đồng bằng.
So sánh ba loại công nhận
Bảng dưới gom các khác biệt giữa ba loại công nhận hay được nhắc khi nói về di sản nông nghiệp.
| Xếp hạng di tích | Di sản phi vật thể | GIAHS (FAO) | |
|---|---|---|---|
| Công nhận cái gì | Địa điểm, công trình, cảnh quan cụ thể | Lễ hội, tập quán, tri thức, nghề do cộng đồng thực hành | Cả một hệ canh tác: đất, nước, giống, tri thức, cộng đồng |
| Cấp | Tỉnh, quốc gia, quốc gia đặc biệt | Quốc gia; quốc tế qua UNESCO | Quốc tế |
| Ví dụ gắn nông nghiệp | Ruộng bậc thang Mù Cang Chải, Hoàng Su Phì | Lễ hội nông nghiệp các vùng; kéo co (UNESCO 2015) | Lúa – cá Thanh Điền; ruộng bậc thang Ifugao, Hà Nhì |
| Bảo vệ chủ yếu bằng | Khoanh vùng, hạn chế xây dựng, quản lý di tích | Hỗ trợ cộng đồng thực hành, truyền dạy | Kế hoạch hành động giữ hệ canh tác và sinh kế |
| Rủi ro hay gặp | Giữ cảnh mà mất người làm ruộng | Sân khấu hoá, rút gọn theo nhu cầu khách | Danh hiệu dùng để quảng bá nhiều hơn giữ hệ |
Ba loại không loại trừ nhau. Một vùng ruộng bậc thang có thể vừa là di tích, vừa gắn với lễ hội phi vật thể, vừa đáp ứng tiêu chí của một hệ GIAHS.
Hiện vật nông nghiệp trong danh mục bảo vật quốc gia
Ngoài cảnh quan và lễ hội, di sản nghề nông còn có mặt trong lớp hiện vật khảo cổ. Từ năm 2012, Việt Nam công nhận bảo vật quốc gia theo từng đợt, và trong những đợt đầu có trống đồng Ngọc Lũ, phát hiện cuối thế kỷ 19 ở vùng Bình Lục, Hà Nam cũ nay thuộc tỉnh Ninh Bình. Trên mặt trống có những cảnh sinh hoạt của cư dân thời Đông Sơn, trong đó có cảnh người giã gạo bằng chày, được nhiều nhà nghiên cứu dẫn làm bằng chứng về đời sống trồng lúa nước hơn hai nghìn năm trước.
Bên cạnh trống đồng, các bảo tàng còn giữ lưỡi cày đồng, rìu, liềm, cuốc bằng đồng thời Đông Sơn, cùng dấu vết hạt lúa cháy, vỏ trấu trong các tầng văn hoá khảo cổ. Những hiện vật này không mang danh hiệu riêng cho nghề nông, nhưng chính chúng là chứng cứ cho câu hỏi "nghề trồng lúa nước ở Việt Nam có từ bao giờ".
Điều đáng chú ý là khoảng cách giữa bảo vật trong tủ kính và nông cụ ở gác bếp không xa như ta nghĩ: cái chày giã gạo trên trống đồng và cái chày trong nhà ông bà cùng một động tác. Nhìn như vậy, mỗi gia đình còn giữ cối, chày, liềm cũ đang giữ đoạn cuối của một mạch rất dài.
Danh hiệu không làm thay được những gì
Không giữ người ở lại làm ruộng. Nếu làm ruộng không đủ sống, người trẻ vẫn rời đi dù ruộng đã là di tích. Danh hiệu chỉ có ý nghĩa khi đi kèm cách để người làm ruộng hưởng lợi từ việc giữ di sản.
Không giữ được tri thức nếu không có người học. Hồ sơ di sản phi vật thể ghi lại trình tự lễ, bài hát, nhưng không thay thế được việc người trẻ tham gia, học từ người già.
Không ngăn được mọi thay đổi. Cảnh quan nông nghiệp luôn thay đổi theo giống, kỹ thuật, thị trường. Danh hiệu giúp cân nhắc khi thay đổi, không đóng băng làng quê như một bảo tàng ngoài trời.
Không tự động mang lại du lịch tốt. Danh hiệu có thể kéo khách đến đông, kéo theo rác, xây dựng tự phát, giá đất tăng. Không có quy hoạch, chính danh hiệu có thể làm hỏng cái nó công nhận.
Không thay vai trò của gia đình. Phần lớn di sản nghề nông nằm trong nhà dân: nông cụ, giống, lời kể. Không danh hiệu nào phủ tới đó; chỉ người trong nhà giữ được.
Từ làng mình: chuẩn bị gì nếu muốn di sản được công nhận
Nhiều làng có lễ hội, cảnh quan, nghề truyền thống đáng được ghi nhận. Bước đầu tiên không phải là làm hồ sơ mà là ghi chép kỹ: lễ diễn ra thế nào, mùa nào, ai làm gì, từ bao giờ theo lời người già; cảnh quan gồm những gì, ai canh tác, dùng nước ra sao. Ảnh, ghi âm, ghi hình, lời kể của nhiều người là nền cho mọi hồ sơ sau này.
Bước tiếp theo là làm việc với chính quyền xã và cơ quan văn hoá tỉnh, nơi có chuyên môn về thủ tục kiểm kê, lập hồ sơ. Quy trình, tiêu chí cụ thể thay đổi theo văn bản hiện hành, nên hỏi trực tiếp cơ quan văn hoá thay vì làm theo hướng dẫn cũ. Điều quan trọng là cộng đồng được tham gia và đồng thuận; hồ sơ do người ngoài làm mà người làng không biết thường khó giữ được di sản lâu dài.
Cũng nên chuẩn bị tinh thần rằng hồ sơ có thể mất nhiều năm, và không phải hồ sơ nào cũng được chấp thuận. Trong thời gian ấy, việc duy trì lễ hội, giữ cảnh quan, truyền dạy cho người trẻ vẫn phải tiếp tục như bình thường; chính sự duy trì đều đặn ấy là bằng chứng mạnh nhất cho thấy di sản còn sống trong cộng đồng.
Và nếu chưa được công nhận, việc ghi chép vẫn không phí. Một làng có tư liệu đầy đủ về lễ xuống đồng, về ruộng, về giống của mình đã giữ được phần lớn di sản, với danh hiệu hay không.
Câu hỏi thường gặp
GIAHS khác di sản thế giới của UNESCO thế nào?
Di sản thế giới của UNESCO công nhận địa điểm có giá trị nổi bật toàn cầu về văn hoá hoặc thiên nhiên. GIAHS của FAO công nhận hệ nông nghiệp đang vận hành, chú trọng sinh kế, đa dạng sinh học nông nghiệp và tri thức truyền thống. Một nơi có thể vừa là di sản thế giới vừa là GIAHS, như ruộng bậc thang Hà Nhì ở Vân Nam.
Ruộng bậc thang thành di tích thì người dân còn được canh tác không?
Có, và việc canh tác chính là điều kiện để di tích tồn tại. Cái bị hạn chế thường là xây dựng, san lấp, đổi mục đích sử dụng trong khu vực bảo vệ. Quy định cụ thể của từng khu nên hỏi chính quyền và ban quản lý địa phương.
Kéo co có liên quan gì đến nghề nông?
Ở nhiều cộng đồng trồng lúa Đông Nam Á và Đông Á, kéo co được tổ chức đầu năm hoặc theo mùa vụ, gắn với mong ước mưa thuận gió hoà, mùa màng tốt và với tinh thần cố kết cộng đồng. Vì vậy hồ sơ UNESCO năm 2015 mô tả kéo co trong bối cảnh văn hoá lúa nước.
Một lễ hội làng muốn vào danh mục di sản phi vật thể quốc gia thì bắt đầu từ đâu?
Bắt đầu từ việc cộng đồng tự ghi chép lễ hội: lịch sử theo lời kể, trình tự, người thực hành, đồ vật, bài hát. Sau đó làm việc với chính quyền xã và cơ quan văn hoá tỉnh để được hướng dẫn kiểm kê và lập hồ sơ theo quy định hiện hành.
Danh hiệu di sản có làm thay đổi cuộc sống người dân không?
Có thể có cả mặt tốt và mặt khó. Mặt tốt là được biết đến, có thêm nguồn lực bảo tồn, du lịch tạo thu nhập. Mặt khó là khách đông, rác, xây dựng bị hạn chế, giá đất, lễ hội bị sân khấu hoá. Kết quả phụ thuộc nhiều vào việc người dân có được tham gia quyết định hay không.
Có danh hiệu nào riêng cho cây cổ thụ, cây trồng lâu năm không?
Có. Ở Việt Nam có danh hiệu Cây Di sản Việt Nam dành cho cây cổ thụ có giá trị về sinh thái, văn hoá, lịch sử, do một hội nghề nghiệp về bảo vệ thiên nhiên xét công nhận. Danh hiệu này khác với xếp hạng di tích và khác với các danh hiệu cho hệ canh tác.