Nếp sống làng quê theo mùa: một năm của nhà nông xưa từ tháng Giêng đến tháng Chạp
Làng quê Việt xưa sống theo nhịp lúa: lúc ăn chơi, lúc giáp hạt, lúc gặt, lúc nông nhàn. Đi qua từng tháng âm lịch ở Bắc Bộ, đối chiếu Nam Bộ và vùng cao.
Làng quê Việt xưa sống theo nhịp lúa: lúc ăn chơi, lúc giáp hạt, lúc gặt, lúc nông nhàn. Đi qua từng tháng âm lịch ở Bắc Bộ, đối chiếu Nam Bộ và vùng cao.
Câu ca "Tháng Giêng là tháng ăn chơi" mô tả đúng một quãng lịch mùa vụ Bắc Bộ. Làng xưa làm gì trong tháng Giêng, hội xuân nào mở, việc đồng nào vẫn chờ.
"Tháng ba ngày tám" chỉ hai quãng giáp hạt tháng Ba và tháng Tám âm lịch, khi thóc cũ đã hết mà lúa mới chưa chín. Vì sao có, làng xưa xoay xở ra sao.
Đổi công là hình thức các nhà góp ngày công làm cho nhau, trả bằng công chứ không bằng tiền. Nguồn gốc, luật ngầm, phường cấy, phường gặt và cách các vùng làm.
Trước khi có máy gặt, một mùa gặt kéo dài nhiều tuần với liềm hái, đòn gánh, cối đập, trục lăn và sân phơi. Từng công đoạn, vì sao gấp và rơm rạ dùng vào đâu.
Ngày mùa, làng quê xưa mang cơm ra bờ ruộng ăn để không bỏ dở việc. Bữa cơm ấy gồm gì ở từng vùng, đựng và mang ra sao, uống nước gì và ai lo phần nấu.
Nông nhàn là quãng giữa hai vụ khi ruộng ít cần người. Làng xưa dùng quãng ấy dệt vải, đan lát, làm hương, làm bánh, đi làm xa, và nhiều làng nghề sinh ra từ đó
Chợ quê xưa họp theo phiên, các chợ gần nhau lệch ngày để người buôn đi vòng. Chợ bán gì theo mùa, ai đi chợ, đo đếm ra sao và chợ là nơi gặp gỡ ra sao.
Trẻ con nhà nông xưa vừa chơi vừa làm theo nhịp mùa: mò cua lúc giáp hạt, mót lúa mùa gặt, thả diều trên đồng trơ rạ. Việc theo tuổi, thú chơi và cái giá phải t
Tháng Chạp ở làng xưa vừa là tháng cấy chiêm trong gió bấc, vừa là tháng lo Tết: tát ao, dọn nhà, đụng lợn, gói bánh, trả nợ. Nhịp tháng cuối năm qua các vùng.