PhuNong.comPhú Nông
Nghề nông qua lịch sử

Nghề trồng lúa nước ở Việt Nam có từ bao giờ: lịch sử nghề nông Việt qua các thời

Dấu vết trồng lúa ở Bắc Bộ có từ khoảng 4.000 năm trước. Đọc lại lịch sử nghề nông Việt từ khảo cổ, triều đình quân chủ, mở đất phương Nam đến xuất khẩu gạo.

An elderly farmer seen from behind walking a narrow earthen dike between flooded rice paddies at sunrise, wooden plough on his shoulder, wide shot

Trên đất Việt Nam ngày nay, dấu vết trồng lúa chắc chắn nhất có từ khoảng 4.000 năm trước, ở các di chỉ thuộc văn hoá Phùng Nguyên và các giai đoạn tiếp theo ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Đến thời văn hoá Đông Sơn, cách nay khoảng 2.500 năm, người Việt cổ đã dùng lưỡi cày bằng đồng, khắc cảnh giã gạo lên trống đồng và sống trong những làng định cư bên ruộng nước. Những ý kiến cho rằng nông nghiệp đã manh nha từ thời văn hoá Hoà Bình, sớm hơn nhiều nghìn năm, vẫn còn được giới khảo cổ tranh luận.

Từ cái mốc ấy, nghề nông Việt đi qua những chặng rất khác nhau: các triều đình quân chủ lấy nông làm gốc, đắp đê, chia ruộng công; người Việt mở đất dần vào phương Nam và gây dựng vựa lúa Nam Bộ; thế kỷ 20 có đồn điền, kênh đào, những năm thiếu ăn, rồi tới lúc gạo Việt ra thị trường thế giới. Bài này đi qua từng chặng, nói rõ điều gì đã chắc, điều gì còn là giả thuyết.

Các nhà khảo cổ biết người xưa trồng lúa bằng cách nào

Lúa không để lại hoá thạch như xương thú, nên bằng chứng về nghề trồng lúa là những dấu vết gián tiếp. Thứ dễ nhận nhất là hạt thóc, hạt gạo bị cháy thành than, nhờ vậy không mục đi trong đất. Thứ hai là vết hạt thóc và vỏ trấu in trên thành đồ gốm: người thợ gốm xưa trộn trấu vào đất sét cho đỡ nứt, khi nung trấu cháy hết nhưng để lại hình. Thứ ba là những hạt silic siêu nhỏ trong lá và vỏ lúa, giới nghiên cứu gọi là thực vật silic, còn lại hàng nghìn năm trong tầng đất.

Bên cạnh đó là công cụ: rìu, cuốc đá mài, rồi lưỡi cày, lưỡi cuốc, liềm bằng đồng. Một chiếc rìu đá chưa nói được người ta trồng lúa, nhưng khi rìu, gốm có trấu, hạt gạo cháy, xương lợn, chó nhà và dấu vết nhà ở cố định cùng xuất hiện trong một tầng văn hoá, thì bức tranh một làng nông nghiệp hiện ra khá rõ.

Một chi tiết quan trọng là phân biệt lúa hoang và lúa trồng. Lúa hoang rụng hạt khi chín, lúa trồng giữ hạt lại trên bông để người gặt. Vết gãy ở cuống hạt dưới kính hiển vi cho biết bông lúa tự rụng hay bị người tuốt, và đó là một trong những cách giới khảo cổ thực vật xác định thời điểm cây lúa được thuần hoá.

Trước khi có ruộng: từ hái lượm đến trồng trọt

Cây lúa được thuần hoá đầu tiên ở đâu là câu hỏi của cả châu Á, không riêng Việt Nam. Phần lớn bằng chứng hiện nay chỉ về vùng trung và hạ lưu sông Dương Tử, nơi lúa được thuần hoá dần trong nhiều nghìn năm, từ khoảng 9.000 đến 7.000 năm trước. Từ đó nghề trồng lúa lan dần xuống phía nam theo các dòng người và các mối giao lưu, gặp những cộng đồng bản địa đã quen khai thác cây cỏ ở vùng nhiệt đới.

Trên đất Việt Nam, những người thuộc văn hoá Hoà Bình và Bắc Sơn sống trong hang đá vôi, săn bắt, bắt ốc suối, hái quả hạt. Một số nhà nghiên cứu từng cho rằng họ đã biết trồng cây có củ, cây ăn quả quanh nơi ở, gọi là nông nghiệp sơ khai. Ý kiến này dựa vào dấu vết hạt cây và công cụ mài lưỡi, nhưng chưa có bằng chứng chắc về lúa trồng trong các tầng văn hoá đó.

Vì vậy, khi đọc câu "người Việt trồng lúa từ hơn một vạn năm trước", bạn nên hiểu đó là một giả thuyết, chưa phải kết luận. Điều có cơ sở vững hơn là bước chuyển sang làng định cư, gốm có trấu và hạt gạo cháy ở vùng trung du Bắc Bộ, cách nay khoảng bốn nghìn năm.

Phùng Nguyên đến Đông Sơn: khi lúa thành nền của đời sống

Văn hoá Phùng Nguyên, đặt theo tên một di chỉ ở Phú Thọ, có những làng nằm trên gò đồi thấp ven sông, cạnh các bãi bồi. Người Phùng Nguyên mài đá rất tinh, làm gốm đẹp và đã bắt đầu biết luyện đồng. Các giai đoạn tiếp theo là Đồng Đậu và Gò Mun, kéo dài đến khoảng thế kỷ 7 trước Công nguyên, để lại nhiều đồ đồng hơn và những hạt gạo cháy ở một số di chỉ.

Văn hoá Đông Sơn, nở rộ từ khoảng thế kỷ 7 trước Công nguyên đến đầu Công nguyên, là lúc nghề nông lúa nước đã thành nền. Lưỡi cày đồng hình tim, hình cánh bướm, lưỡi cuốc, rìu xéo, những chiếc thạp, chiếc nồi đồng lớn để đựng lương thực, và trống đồng có hình người giã gạo bằng chày đôi cho thấy cả một chu trình từ làm đất đến chế biến.

Sách cổ Trung Hoa được nhiều nhà sử học dẫn lại có nhắc tới "ruộng Lạc" theo nước triều lên xuống mà làm. Câu này thường được hiểu là người Việt cổ ở vùng châu thổ đã biết lợi dụng con nước thuỷ triều để đưa nước vào ruộng. Truyền thuyết Lang Liêu làm bánh chưng, bánh giầy từ gạo nếp dâng vua Hùng là một lớp tư liệu khác: không phải sử, nhưng cho thấy hạt gạo đã giữ chỗ trung tâm trong đời sống tinh thần từ rất sớm.

Thời quân chủ tự chủ: lấy nông làm gốc

Sau khi giành tự chủ ở thế kỷ 10, các triều đại Đại Việt đều coi nghề nông là gốc của nước. Năm 987, vua Lê Đại Hành làm lễ cày ruộng tịch điền ở núi Đọi, nay thuộc Ninh Bình (trước đây thuộc Hà Nam), mở đầu lệ nhà vua xuống ruộng mỗi đầu năm mà các triều Lý, Trần, Lê còn giữ ở nhiều đời vua.

Nhà Lý đắp đê Cơ Xá bên sông Cái năm 1108, có lệnh cấm giết trâu bò để giữ sức kéo. Nhà Trần năm 1248 cho đắp đê dọc sông Hồng từ đầu nguồn ra tới biển, đặt chức quan coi đê. Thời Lê sơ có phép quân điền năm 1477 chia ruộng công làng xã, có các chức quan khuyến nông, đồn điền; bộ luật thời Lê có nhiều điều khoản bảo vệ đê điều, mùa màng và trâu cày.

Phía dưới triều đình là làng. Ruộng công, ruộng tư, lệ chia ruộng theo suất đinh, hương ước quy định việc giữ nước, cấm thả trâu phá lúa, tổ chức đi tuần đồng khi lúa chín. Phần lớn lịch sử nghề nông Việt diễn ra ở tầng làng này, chậm rãi và ít được ghi chép hơn những sự kiện của triều đình.

Mở đất phương Nam và hai vựa lúa

Từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 18, người Việt dần đến sinh sống ở các vùng đất phía nam, xen cư với người Chăm, người Khmer và các tộc người bản địa. Mỗi vùng đất mới đòi một cách làm ruộng mới: ruộng cát ven biển miền Trung phải đào giếng, đắp bờ giữ nước; ruộng ở Nam Bộ phải chống phèn, chống mặn, chịu lũ hằng năm.

Thế kỷ 19 là thời của những công trình lớn: triều Nguyễn cho đào kênh Thoại Hà và kênh Vĩnh Tế ở vùng An Giang ngày nay, Nguyễn Công Trứ chiêu dân lập hai huyện cũ Kim Sơn và Tiền Hải bằng cách quai đê lấn biển. Cùng thời, triều Nguyễn lập địa bạ cho hầu hết làng xã, ghi rõ từng thửa ruộng, chủ ruộng và loại ruộng.

Kết quả của mấy trăm năm ấy là hai vựa lúa: đồng bằng sông Hồng thâm canh trên ruộng nhỏ, dân đông, và đồng bằng sông Cửu Long ruộng rộng, mùa nước nổi, về sau thành vùng làm ra phần lớn lúa gạo của cả nước. Lịch sử khai khẩn ấy có nhiều chương riêng, từ người đi trước phát rừng đến những dòng kênh làm đổi cả một vùng.

Dòng thời gian nghề nông Việt qua các thời

Bảng dưới gom các mốc chắc chắn nhất. Năm của các giai đoạn khảo cổ là ước lượng, có thể xê dịch theo các nghiên cứu mới.

Thời kỳMốc chínhĐiều đáng nhớ với nghề nông
Khoảng 4.000 năm trướcVăn hoá Phùng Nguyên, rồi Đồng Đậu, Gò MunLàng định cư, gốm có trấu, hạt gạo cháy ở một số di chỉ
Khoảng thế kỷ 7 TCN – đầu Công nguyênVăn hoá Đông SơnLưỡi cày, lưỡi cuốc đồng; trống đồng có cảnh giã gạo
Năm 987Lê Đại Hành cày tịch điền ở núi ĐọiMở lệ nhà vua xuống ruộng đầu năm
Năm 1108 và 1248Nhà Lý đắp đê Cơ Xá; nhà Trần đắp đê dọc sông HồngĐê điều thành việc của triều đình
Năm 1477Phép quân điền thời Lê sơRuộng công làng xã chia theo suất
Thế kỷ 19Địa bạ triều Nguyễn; đào kênh, quai đê lấn biểnGhi sổ ruộng đất; mở thêm vùng trồng lúa
Cuối thế kỷ 19 – giữa thế kỷ 20Đồn điền cao su, cà phê; kênh đào Nam BộGạo Nam Kỳ xuất khẩu, cây công nghiệp xuất hiện
Cuối thập niên 1980Khoán đến hộ, năm 1989 bắt đầu xuất khẩu gạo lớnTừ thiếu lương thực sang có gạo bán ra thế giới

Khi gặp một con số "nghìn năm" trong sách phổ thông, bạn nên xem nó thuộc dòng nào trong bảng: dấu vết khảo cổ có niên đại đo được, ghi chép của sử cũ, hay truyền thuyết. Ba loại tư liệu ấy có giá trị khác nhau.

Thế kỷ 20: đồn điền, những năm thiếu ăn và gạo ra thế giới

Thời Pháp thuộc, Nam Kỳ được đào thêm nhiều kênh lớn, diện tích lúa mở rộng nhanh, gạo xuất khẩu qua cảng Sài Gòn thành nguồn thu chính của cả xứ Đông Dương. Ở miền Đông Nam Bộ và Tây Nguyên mọc lên các đồn điền cao su, cà phê với hàng chục nghìn người làm thuê từ miền Bắc, miền Trung vào, đời sống rất cực nhọc, để lại câu ca "cao su đi dễ khó về".

Nửa sau thế kỷ 20, chiến tranh và những khó khăn kinh tế khiến nhiều năm cả nước phải nhập lương thực. Cuối thập niên 1980, cùng với cơ chế khoán sản phẩm đến hộ nông dân, giống lúa mới, thuỷ lợi mở rộng ở đồng bằng sông Cửu Long, sản lượng lúa tăng nhanh. Năm 1989, Việt Nam xuất khẩu khoảng 1,4 triệu tấn gạo, mở đầu giai đoạn đứng trong nhóm nước bán gạo nhiều nhất thế giới.

Đằng sau những con số là sự thay đổi của làng: máy bơm thay gàu sòng, máy cày thay trâu, phân bón và giống mới đưa nhiều nơi từ một vụ lên hai, ba vụ mỗi năm, và một phần lớn người trẻ rời làng lên thành phố. Câu chuyện đó chỉ kể ở đây như một chặng kinh tế. Với người làm nông, điều đáng nhớ hơn là nhiều tập quán của ông bà, từ chuyện đổi công, giữ giống, đọc trời, vẫn còn sống bên cạnh máy gặt đập liên hợp và giống lúa mới.

Câu hỏi thường gặp

Người Việt cổ trồng lúa nếp hay lúa tẻ trước?

Khảo cổ chưa cho phép nói chắc. Hạt gạo cháy khó phân biệt nếp hay tẻ. Nhiều nhà dân tộc học cho rằng lúa nếp từng giữ vị trí lớn trong bữa ăn và nghi lễ của cư dân vùng núi và trung du, điều này còn thấy ở nhiều tộc người hôm nay, nhưng đó là suy luận từ tập quán chứ chưa phải bằng chứng khảo cổ trực tiếp.

Văn minh lúa nước có phải chỉ của người Việt không?

Không. Văn minh lúa nước là nền chung của nhiều cư dân Đông Nam Á và miền nam Trung Hoa: người Thái, người Khmer, người Môn, các tộc người ở hải đảo. Mỗi nơi có kỹ thuật, lễ nghi, nông lịch riêng. Khi nói "văn minh lúa nước Việt", nên hiểu là một nhánh trong nền chung đó, có những nét riêng của châu thổ sông Hồng, sông Mã.

Lưỡi cày đồng Đông Sơn được kéo bằng người hay bằng trâu?

Giới nghiên cứu còn bàn. Một số lưỡi cày nhỏ, nhẹ có thể do người kéo hoặc đẩy; một số lớn hơn nhiều khả năng đã dùng sức trâu bò. Trâu nhà đã có mặt trong các di chỉ thời này, nhưng chưa có hình ảnh nào trên trống đồng cho thấy rõ cảnh trâu kéo cày.

Vì sao các triều đại phong kiến coi trọng nghề nông như vậy?

Vì thóc gạo là nguồn thuế chính, là lương thực nuôi quân, và một năm mất mùa có thể đẩy cả vùng vào đói kém, loạn lạc. Lễ tịch điền, đắp đê, khuyến nông, cấm giết trâu đều xuất phát từ nhu cầu giữ ổn định ấy, đồng thời thể hiện quan niệm nhà vua phải chăm lo cái ăn của dân.

Tìm hiểu thêm về lịch sử nghề nông nên đọc tư liệu gì?

Có thể bắt đầu từ các bộ sử lớn như Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, rồi các công trình khảo cổ học về văn hoá Phùng Nguyên, Đông Sơn, và các nghiên cứu về địa bạ triều Nguyễn. Bảo tàng lịch sử ở Hà Nội và bảo tàng các tỉnh trưng bày nhiều nông cụ, đồ gốm, trống đồng gốc.

Ở Nam Bộ, nghề trồng lúa có từ thời Óc Eo không?

Các di chỉ văn hoá Óc Eo ở An Giang và nhiều nơi khác tại Nam Bộ, có niên đại khoảng đầu Công nguyên đến thế kỷ 7, cho thấy cư dân đã trồng lúa, buôn bán đường biển và sống ở những đô thị cổ có kênh đào. Nghề trồng lúa ở vùng này vì vậy có từ rất lâu trước khi người Việt đến khai khẩn.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.