PhuNong.comPhú Nông
Nghề nông qua lịch sử

Ruộng công làng xã và phép quân điền: ruộng đất làng Việt xưa được chia thế nào

Ruộng công là gì, khác ruộng tư thế nào? Phép quân điền năm 1477 chia ruộng theo suất ra sao, làng chia ruộng thực tế thế nào và ruộng công nuôi những việc chung gì.

Two village elders seen from behind on a raised bank, pointing across small rice plots divided by low bunds, late afternoon, wide shot

Ruộng công là ruộng thuộc quyền quản lý của làng, không ai được mua bán, định kỳ đem chia cho người trong làng cày cấy rồi nộp thuế cho nhà nước. Phép quân điền là cách triều đình quy định việc chia ấy, ban hành chính thức thời Lê Thánh Tông năm 1477. Bên cạnh ruộng công là ruộng tư, thuộc sở hữu từng gia đình, được mua bán, cầm cố, để lại cho con cháu.

Tỷ lệ ruộng công và ruộng tư khác nhau rất nhiều giữa các vùng và các thời: nhiều làng đồng bằng Bắc Bộ và Trung Bộ giữ khá nhiều ruộng công, còn ở Nam Bộ ruộng tư chiếm phần lớn. Bài này giải thích các loại ruộng trong làng, phép quân điền chia theo suất ra sao, và ruộng công đã nuôi những việc chung gì của làng xã Việt xưa.

Các loại ruộng trong một làng Việt xưa

Một làng đồng bằng thế kỷ 18–19 có thể có nhiều loại ruộng cùng lúc. Tên gọi thay đổi theo vùng, bảng dưới chỉ gom những loại thường gặp trong tư liệu.

Loại ruộngThuộc về aiDùng vào việc gì
Ruộng công (công điền)Làng quản lýChia cho dân đinh cày, thu thuế nộp nhà nước
Ruộng tư (tư điền)Từng gia đìnhTự cày, cho thuê, mua bán, để thừa kế
Ruộng hương hoảDòng họ, gia đìnhLấy hoa lợi lo việc thờ cúng tổ tiên
Ruộng học điềnLàng hoặc họLấy hoa lợi giúp người đi học, khuyến học
Ruộng hậuLàng, đìnhNgười cúng ruộng cho làng để được làng giỗ sau khi mất
Ruộng chùa, ruộng đìnhChùa, đình làngNuôi người trông nom, lo lễ tết của làng
Đất bãi, đất màuLàng hoặc tư nhânTrồng ngô, khoai, đậu, dâu; chia hoặc cho thầu

Bảng cho thấy làng xưa không chỉ là nơi ở mà còn là một đơn vị kinh tế: có quỹ ruộng riêng để nuôi các việc chung, từ đình đám đến học hành. Cách chia, cách dùng từng loại ruộng được ghi trong hương ước, mỗi làng một lệ.

Ruộng công từ đâu mà có

Giới sử học có nhiều cách giải thích nguồn gốc ruộng công. Một quan điểm phổ biến cho rằng nó là dấu vết của chế độ công xã thời rất xa xưa, khi đất đai thuộc về cả cộng đồng làng và được chia cho các gia đình cày cấy. Khi nhà nước quân chủ hình thành, nhà nước coi mình có quyền tối cao với đất đai, còn làng giữ quyền quản lý và chia ruộng.

Thực tế, quỹ ruộng công của một làng có thể đến từ nhiều nguồn: ruộng vốn có từ khi lập làng, ruộng khai hoang chung, ruộng của người chết không có người thừa kế, ruộng bị tịch thu, ruộng do nhà nước cấp. Quá trình hình thành vì vậy rất khác nhau giữa làng cổ ở đồng bằng sông Hồng và làng mới lập ở vùng đất khai hoang.

Câu nói dân gian "đất vua, chùa làng" phản ánh đúng sự phân tầng ấy: đất đai trên danh nghĩa là của nhà vua, nhưng việc dùng, việc chia, việc giữ lại thuộc về làng. Đây là nền tảng của sự tự quản làng xã mà người ta hay tóm bằng câu "phép vua thua lệ làng".

Phép quân điền năm 1477: chia theo suất và thứ bậc

Sau khi đuổi quân Minh, nhà Lê sơ có trong tay nhiều ruộng đất bỏ hoang, ruộng của người theo giặc bị tịch thu. Từ thời Lê Thái Tổ, triều đình đã chia ruộng cho quân lính và dân. Đến năm 1477, đời Lê Thánh Tông, phép quân điền được ban hành thành quy định chung áp dụng cho ruộng công làng xã trong cả nước.

Theo phép quân điền, ruộng công trong làng được chia thành từng suất cho mọi người từ quan lại, binh lính đến dân đinh, người già, người tàn tật, trẻ mồ côi, goá phụ. Mỗi hạng người nhận số suất khác nhau: quan lại có phẩm hàm nhận nhiều hơn, dân đinh nhận phần chuẩn, người già yếu, cô quả nhận phần ít hơn. Người phạm tội nặng, người bỏ làng đi nơi khác có thể không được chia.

Ruộng được chia lại theo định kỳ một số năm, để ai mới đến tuổi thì có phần, người mất đi thì trả lại. Người nhận ruộng có quyền cày cấy và hưởng hoa lợi, phải nộp thuế, nhưng không được bán. Đây là một cơ chế vừa bảo đảm dân có ruộng cày, vừa giữ nguồn thuế và nguồn lính cho nhà nước.

Ở làng, chia ruộng thực tế diễn ra thế nào

Kỳ chia ruộng là việc lớn của làng. Đến kỳ, chức dịch làng họp ở đình, lập danh sách người được chia theo sổ đinh. Việc này thường kèm nhiều bàn cãi, vì ai cũng muốn được phần ruộng tốt.

Ruộng tốt, xấu chia xen nhau. Ruộng công được xếp hạng theo độ màu mỡ, gần xa, cao thấp. Để công bằng, mỗi suất thường gồm vài mảnh ở các xứ đồng khác nhau, có mảnh tốt mảnh xấu, nên ruộng của một nhà nằm rải rác khắp cánh đồng.

Bốc thăm để tránh thiên vị. Nhiều làng dùng cách bốc thăm để định mảnh nào về nhà nào. Dù vậy, tư liệu cũng ghi không ít trường hợp chức dịch giữ phần tốt cho mình và người thân, dẫn tới kiện tụng.

Ruộng công phải gánh nghĩa vụ chung. Người nhận ruộng công phải góp vào việc làng: phu đắp đê, canh đồng, nộp thóc cho quỹ làng. Có làng dùng một phần ruộng công cho người đi lính cày để bù việc họ vắng nhà.

Ruộng manh mún là hệ quả lâu dài. Cách chia xen kẽ qua nhiều thế kỷ làm ruộng ở đồng bằng sông Hồng vụn thành từng mảnh nhỏ. Tình trạng manh mún này còn thấy cho tới cuối thế kỷ 20, khi nhiều địa phương phải dồn điền đổi thửa.

Ruộng công nuôi những việc chung của làng

Ngoài phần chia cho dân, làng thường giữ lại một phần ruộng công hoặc nhận thêm ruộng do người trong làng hiến để lo việc chung. Hoa lợi từ ruộng này dùng cho lễ tết ở đình, sửa đình, sửa đường, giúp người nghèo, cứu đói khi mất mùa.

Ruộng học điền là một nét đẹp được nhắc nhiều: làng hoặc dòng họ dành một khoảnh ruộng, lấy hoa lợi để thưởng cho người đỗ đạt, giúp học trò nghèo mua giấy bút, nuôi thầy đồ. Nhiều làng khoa bảng ở Bắc Bộ có học điền khá lớn, góp phần vào truyền thống hiếu học của làng.

Ruộng hậu là ruộng một người cúng cho làng khi còn sống, để sau khi mất được làng làm giỗ hằng năm. Tập tục này cho thấy ruộng không chỉ là tư liệu sản xuất mà còn là cách người xưa gửi gắm sự tưởng nhớ vào cộng đồng. Nhiều bia hậu còn dựng ở đình, chùa, ghi tên người cúng và diện tích ruộng.

Thời Nguyễn và sự khác biệt giữa ba miền

Triều Nguyễn tiếp tục chính sách quân cấp ruộng công, có điều chỉnh về số suất và định kỳ chia lại. Địa bạ lập đầu thế kỷ 19 cho thấy tỷ lệ ruộng công rất khác nhau giữa các vùng. Nhiều làng ở đồng bằng Bắc Bộ và Trung Bộ còn ruộng công đáng kể, trong khi ở Nam Bộ, đất mới khai phá, ruộng tư chiếm phần lớn.

Có một sự kiện thường được nhắc: cuối thời Minh Mạng, triều đình cho trích một phần ruộng tư ở Bình Định, nay thuộc Gia Lai, chuyển thành ruộng công để chia cho dân không có ruộng. Đây là một trong số ít lần nhà nước can thiệp mạnh vào ruộng tư, và giới sử học còn bàn về hiệu quả thực tế của nó.

Sang thời Pháp thuộc, ruộng công tiếp tục thu hẹp ở nhiều nơi, phần thì do bị chiếm dần, phần thì do chính sách điền địa mới. Đến giữa thế kỷ 20, chế độ ruộng công làng xã kiểu cũ chấm dứt cùng những thay đổi lớn về ruộng đất. Bài này không bàn về các chính sách ấy, chỉ ghi nhận đó là điểm kết của một thiết chế đã tồn tại hàng thế kỷ.

Ở vùng cao và Tây Nguyên: những lệ đất đai riêng

Phép quân điền là quy định của triều đình cho làng xã người Việt ở đồng bằng. Ở nhiều cộng đồng miền núi, chuyện đất đai vận hành theo luật tục riêng, có lịch sử lâu đời không kém. Ở các mường của người Thái vùng Tây Bắc xưa, ruộng nước trong lòng chảo thường được coi là của chung bản mường, chia cho các hộ cày theo lệ, một phần ruộng dành cho người giữ chức việc trong bản, trong mường.

Ở Tây Nguyên, đất rừng, đất rẫy, bến nước thường thuộc về cả buôn làng hoặc một dòng họ. Ở người Ê Đê, người giữ vai trò chủ đất của dòng họ theo luật tục, gọi là pô lăn, có trách nhiệm trông nom ranh giới, cho phép người trong và ngoài dòng họ phát rẫy, và chủ trì một số nghi lễ liên quan đến đất. Rẫy được canh tác luân phiên, để rừng hồi lại rồi mới quay về.

Những lệ này không phải phiên bản kém hơn của ruộng công đồng bằng, mà là cách các cộng đồng thích ứng với địa hình, rừng núi và hình thức canh tác của mình. Khi tìm hiểu, nên dùng tư liệu dân tộc học và hỏi chính người trong cộng đồng, vì mỗi tộc người, mỗi vùng có lệ khác nhau, không thể quy về một mô tả chung.

Những hiểu lầm hay gặp về ruộng công

Khi đọc về ruộng công làng xã, người đọc phổ thông dễ rơi vào một số cách hiểu đơn giản hoá:

  • "Làng xưa ai cũng có ruộng công chia đều." Thực tế số suất khác nhau theo thứ bậc, ruộng tốt xấu khác nhau, và nhiều làng ruộng công rất ít so với ruộng tư.
  • "Ruộng công là của chung nên không ai tranh." Hương ước và văn bản kiện tụng cho thấy tranh chấp ruộng công là chuyện thường.
  • "Phép quân điền là chia ruộng cho người nghèo." Phép này chia cho mọi hạng người, kể cả quan lại, và gắn chặt với nghĩa vụ thuế, lính.
  • "Ruộng công tồn tại như nhau ở mọi vùng." Nam Bộ là vùng ruộng tư chiếm ưu thế ngay từ thời khai phá; nhiều làng miền núi có lệ đất đai riêng của cộng đồng, không theo phép quân điền.
  • "Ruộng công biến mất hoàn toàn không để lại dấu vết." Tên các xứ đồng, bia hậu, sổ địa bạ, hương ước còn lưu giữ nhiều thông tin về ruộng công của từng làng.

Để hiểu đúng ruộng công của một làng cụ thể, cách tốt nhất là tìm địa bạ và hương ước của chính làng đó, thay vì suy từ mô tả chung.

Câu hỏi thường gặp

Ruộng công có được để lại cho con cháu không?

Không. Ruộng công chỉ được chia cho người cày trong một kỳ, hết kỳ làng chia lại. Khi người nhận ruộng mất, phần ruộng trở về làng để chia cho người khác. Thứ có thể để lại cho con cháu là ruộng tư và ruộng hương hoả của gia đình, dòng họ.

Phụ nữ có được chia ruộng công không?

Phép quân điền thời Lê có nhắc đến các hạng người như goá phụ, người cô quả được nhận phần ruộng, dù ít hơn dân đinh. Cách áp dụng cụ thể phụ thuộc lệ từng làng. Với ruộng tư, luật thời Lê có những điều khoản khá rõ về quyền thừa kế của con gái.

Vì sao ruộng ở đồng bằng sông Hồng manh mún như vậy?

Một phần do cách chia ruộng công xen kẽ tốt xấu qua nhiều thế kỷ, một phần do ruộng tư bị chia nhỏ qua mỗi lần thừa kế, cộng với mật độ dân rất cao. Kết quả là một hộ có nhiều mảnh nhỏ nằm rải rác, việc dồn điền đổi thửa sau này nhằm khắc phục điều đó.

Ruộng hậu khác ruộng hương hoả thế nào?

Ruộng hương hoả thuộc gia đình, dòng họ, dùng để lo thờ cúng tổ tiên của chính họ. Ruộng hậu là ruộng một người cúng cho làng hoặc chùa để làng, chùa làm giỗ cho mình sau khi mất. Một bên là việc riêng của dòng họ, một bên là sự gửi gắm vào cộng đồng.

Có thể tìm thông tin ruộng công của làng mình ở đâu?

Nguồn chính là địa bạ triều Nguyễn, hương ước, bia đá ở đình chùa, và lời kể của người già. Địa bạ thường ghi rõ tổng ruộng công, ruộng tư của từng làng. Nhiều tư liệu viết bằng chữ Hán, chữ Nôm, nên cần người biết đọc hoặc bản dịch của các nhà nghiên cứu.

Ở Nam Bộ có ruộng công không?

Có nhưng ít. Khi khai phá Nam Bộ, triều đình khuyến khích người dân tự khai hoang và công nhận ruộng tư cho người khai phá, nên ruộng tư chiếm phần lớn. Một số làng vẫn có ruộng công, ruộng đình để lo việc chung, nhưng không giữ vai trò như ở đồng bằng Bắc Bộ.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.