Phần sắt của nông cụ xưa như lưỡi cày, lưỡi cuốc, lưỡi liềm, lưỡi thuổng do thợ rèn làm ra và sửa lại mỗi mùa; phần tre như nong, nia, thúng, gàu do thợ đan làm; phần gỗ như thân cày, cối do thợ mộc, thợ đóng cối hoặc chính nhà nông làm. Những người thợ ấy sống ngay trong làng hoặc ở làng nghề lân cận, gắn chặt với nhịp mùa vụ.
Bài này kể về nghề rèn và nghề đan phục vụ nhà nông: lò rèn có gì, thợ rèn làm việc ra sao, vài làng rèn có tiếng, thợ đan chọn tre thế nào, và hôm nay những nông cụ do họ làm ra còn ở đâu.
Lò rèn làng: bễ, đe, búa và ngọn lửa
Một lò rèn làng truyền thống thường chỉ là một gian nhà nhỏ, có khi chỉ là mái che cạnh đường làng. Trung tâm là bếp lò đốt than, nơi sắt được nung tới đỏ rực. Bên cạnh bếp là chiếc bễ để thổi gió: bễ có thể là một ống gỗ hoặc ống tre lớn có pít-tông kéo đẩy, hoặc túi da bóp bằng tay, tuỳ vùng. Gió thổi vào làm than cháy mạnh, nâng nhiệt độ đủ để rèn.
Chiếc đe là khối sắt nặng đặt trên một gốc gỗ lớn, nơi thanh sắt nung đỏ được đặt lên để đập. Thợ rèn có búa con, búa tạ, kìm dài để gắp sắt nóng, chậu nước để trui, đá mài và các dụng cụ để đục, uốn, tạo răng.
Lò rèn thường có ít nhất hai người. Thợ cả cầm kìm giữ thanh sắt và cầm búa con gõ chỉ chỗ; thợ phụ quai búa tạ đập theo chỗ thợ cả chỉ. Nhịp búa con và búa tạ xen nhau tạo nên âm thanh đặc trưng của lò rèn, nghe từ xa cũng biết. Trẻ con hay tụ lại xem tia lửa bắn ra mỗi nhát búa.
Công việc nặng, nóng, bụi than, và đòi hỏi con mắt tinh: nhìn màu sắt nung để biết lúc nào rèn được, lúc nào phải nung lại, lúc nào nhúng nước để trui. Những kinh nghiệm ấy truyền từ thầy sang trò bằng làm, ít khi ghi chép. Người học việc thường bắt đầu bằng kéo bễ, quai búa tạ nhiều năm, rồi mới được cầm kìm và búa con. Nghề rèn ở nhiều làng truyền trong dòng họ, cha truyền con nối, và có làng thờ tổ nghề rèn ở đình.
Rèn một lưỡi liềm: các bước của người thợ
Mỗi lò rèn có cách làm riêng, nhưng việc rèn một lưỡi liềm thường đi qua những bước đại thể như sau:
- Chọn sắt hoặc thép phù hợp. Ngày trước, thợ rèn tận dụng nhiều nguồn sắt, kể cả sắt cũ từ dụng cụ hỏng.
- Nung đỏ thanh sắt trong lò, đập dài và dẹt thành phôi lưỡi, độ dày đều.
- Nung lại, uốn cong phôi theo hình trăng khuyết trên mép đe, tạo chuôi để tra cán.
- Tạo răng cưa ở mép trong bằng đục hoặc dũa, từng răng một, đều nhau. Đây là bước cần tay nghề nhất.
- Trui lưỡi: nung tới màu thích hợp rồi nhúng nước để lưỡi cứng. Trui quá cứng thì lưỡi giòn dễ mẻ, quá mềm thì nhanh cùn.
- Mài sắc, tra cán gỗ hoặc tre, kiểm tra độ cân và độ ăn của lưỡi.
Ngoài làm mới, phần lớn việc của thợ rèn làng là sửa: rèn lại răng liềm mòn, đắp sắt vào lưỡi cuốc mẻ, nắn lưỡi cày cong, làm lại chuôi thuổng. Đầu mỗi vụ, lò rèn đông khách nhất, vì nhà nào cũng mang đồ ra sửa trước ngày ra đồng.
Vài làng rèn có tiếng ở Bắc Bộ và vùng núi
Đa Sỹ (Hà Nội). Làng rèn Đa Sỹ ở khu vực Hà Đông xưa nay thuộc Hà Nội nổi tiếng từ lâu với nghề rèn dao kéo và nông cụ. Sản phẩm của làng từng theo chân các lái buôn đi nhiều vùng ở đồng bằng Bắc Bộ.
Phúc Sen (Cao Bằng). Làng rèn Phúc Sen của người Nùng An ở Cao Bằng được biết đến với dao, cuốc, cày, liềm phục vụ đồng bào vùng núi. Nghề rèn là sinh kế và niềm tự hào của làng, nhiều gia đình vẫn giữ lò đến nay.
Vân Chàng (Ninh Bình, trước là Nam Định). Làng rèn Vân Chàng là một trong những làng rèn lâu đời của đồng bằng sông Hồng, làm nông cụ, dao kéo và đồ sắt gia dụng.
Lò rèn ở chợ phiên vùng cao. Ở nhiều chợ phiên miền núi phía Bắc, góc bán dao, cuốc, lưỡi cày do thợ rèn người Mông, người Nùng, người Dao làm ra luôn đông người xem. Người mua cầm từng con dao lên ngắm, gõ thử, hỏi chuyện thợ rồi mới chọn, vì một con dao tốt dùng được nhiều năm trên nương.
Những lò rèn không tên. Bên cạnh các làng nghề có tiếng, gần như vùng nào cũng có những lò rèn nhỏ ở chợ quê, đầu làng. Chính những lò rèn không ai ghi tên này mới là nơi phần lớn nhà nông mang lưỡi cày, lưỡi liềm đến sửa mỗi mùa.
Thợ đan: từ cây tre đến chiếc nong, chiếc gàu
Nghề đan phục vụ nhà nông thường là nghề phụ của nhiều làng, làm vào lúc nông nhàn. Tre được chọn theo tuổi: tre non dễ uốn nhưng mau mọt, tre già cứng và bền hơn. Người thợ chặt tre về, ngâm nước để giảm chất bột đường trong thân, giúp chống mọt, rồi chẻ thành nan.
Chẻ nan là việc đòi hỏi tay quen. Nan phải đều độ dày, đều bản, vót nhẵn để không xước tay người dùng. Mỗi món đồ cần loại nan khác nhau: nan nong to và dày, nan giần nhỏ và mảnh, nan gàu dày để chịu nước. Sau đó là đan theo kiểu lóng mốt, lóng đôi, lóng ba hay kiểu khác, rồi cạp vành bằng tre đực, buộc bằng mây hoặc lạt.
Thợ đan giỏi không chỉ làm đẹp mà còn làm đúng: mắt giần đủ nhỏ để cám lọt mà gạo không lọt, gàu đủ kín để giữ nước sau khi trát chống thấm, thúng đủ chắc để gánh nặng đường xa. Người mua thường chỉ nói việc cần dùng, thợ tự biết đan thế nào. Mỗi người thợ cũng có "tay đan" riêng: nhìn cách cạp vành, cách xử lý mép nan, người trong làng có thể đoán món đồ do ai đan, giống như nhận ra nét chữ quen.
Ở vùng cao, đan lát là kỹ năng phổ biến của nam giới nhiều dân tộc. Đàn ông Tây Nguyên đan gùi, đan phên, đan nong; nhiều chiếc gùi đẹp được xem là niềm tự hào của người đan và là món quà quý trong gia đình.
Thợ mộc, thợ đóng cối và phần nhà nông tự làm lấy
Không phải nông cụ nào cũng cần thợ chuyên. Phần gỗ của chiếc cày, chiếc bừa thường do thợ mộc làng làm, nhưng không ít nông dân khéo tay tự đẽo lấy bắp cày, ách trâu, cán cuốc. Thân bừa, răng bừa bằng gỗ hay tre cũng nhiều nhà tự làm vào mùa nông nhàn, chỉ mua răng sắt nếu cần.
Thợ đóng cối là một nghề riêng: đi rong từ làng này sang làng khác, gánh đồ nghề, nhận đóng cối xay mới và thay răng cối cũ. Họ cần biết cả đan tre, chọn đất sét, đẽo gỗ, nên là một kiểu thợ tổng hợp. Khi máy xay xát về làng, đây là nghề biến mất nhanh nhất.
Nhiều vật dụng khác do chính người trong nhà làm: bện thừng bằng rơm, đay; vót lạt; đan rổ rá đơn giản; làm quang gánh, đòn gánh từ tre trong vườn. Kỹ năng làm và sửa đồ nghề là một phần của việc làm nông, được truyền từ cha sang con như cách cày, cách cấy.
Nhìn như vậy, nông cụ xưa là kết quả của cả một mạng lưới: thợ rèn ở chợ, thợ đan ở làng bên, thợ đóng cối đi rong, thợ mộc trong xóm và chính bàn tay người nông dân. Mất đi một mắt xích, cả hệ thống phải thay đổi theo.
Khi máy móc về làng: nghề rèn, nghề đan đổi thay
Từ cuối thế kỷ 20, nông cụ sản xuất công nghiệp, máy cày, máy gặt và đồ nhựa dần thay chỗ cho nhiều sản phẩm của thợ rèn và thợ đan làng. Lưỡi cuốc, lưỡi liềm sản xuất hàng loạt bán ở chợ với giá rẻ, người ta ít mang đi sửa. Thúng, rổ, rá nhựa thay đồ tre trong bếp.
Nhiều lò rèn chuyển sang làm dao kéo gia dụng, đồ sắt mỹ nghệ, phụ tùng, hoặc dùng máy búa, máy mài để tăng năng suất. Nhiều làng đan chuyển sang làm hàng mây tre đan xuất khẩu, đồ trang trí, đồ nội thất. Nghề vẫn sống, nhưng khách hàng và sản phẩm đã khác.
Ở vùng cao, nơi máy móc chưa vào được hết các thửa ruộng dốc và nương rẫy, thợ rèn và thợ đan vẫn giữ vai trò như xưa. Một chiếc cuốc, một con dao do thợ trong vùng rèn theo đúng thói quen dùng của người địa phương vẫn được ưa chuộng hơn đồ bán sẵn, vì góc lưỡi, độ nặng và độ dài cán hợp với đất và tay người dùng ở đó.
Điều đáng lo là người học nghề ngày càng ít. Rèn nặng nhọc, đan mất nhiều công, thu nhập không hấp dẫn bằng việc ở khu công nghiệp. Khi thế hệ thợ già nghỉ tay, nhiều kỹ thuật cụ thể như cách trui lưỡi liềm, cách đan mắt giần có thể mất theo.
Nông cụ xưa hôm nay: ở bảo tàng, trong trang trí và trong gia đình
Những nông cụ do thợ rèn, thợ đan làng làm ra hiện có thể gặp ở nhiều nơi:
- Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam ở Hà Nội và nhiều bảo tàng tỉnh có khu trưng bày nông cụ, thường kèm chú thích cách dùng và vùng sử dụng.
- Nhà trưng bày của một số làng, hợp tác xã hay khu du lịch nông nghiệp, nơi khách có thể xem và thử dùng dưới sự hướng dẫn.
- Quán ăn, homestay, quán cà phê treo cày, bừa, nong nia, gàu làm trang trí. Nhiều món là đồ cũ thật, nhiều món là đồ làm lại theo mẫu cũ.
- Gia đình ở quê: chiếc cối đá ở góc sân, chiếc liềm treo vách, chiếc nia dựng sau bếp, vẫn dùng hoặc giữ làm kỷ niệm.
- Lời kể của thợ già: cách nung, cách trui, cách chọn tre, tên từng bộ phận. Đây là phần dễ mất nhất.
Nếu muốn giữ lại nghề, việc đơn giản và hữu ích là ghi chép, chụp ảnh, quay lại cảnh thợ làm việc, kèm lời giải thích của chính họ. Một đoạn phim ngắn về cách trui lưỡi liềm, một trang ghi tên các loại nan, có giá trị tư liệu lớn hơn nhiều so với một món đồ cũ không có câu chuyện đi kèm.
Câu hỏi thường gặp
Thợ rèn làng ngày xưa làm những việc gì cho nhà nông?
Thợ rèn làm mới và sửa phần sắt của nông cụ: lưỡi cày, diệp cày, lưỡi cuốc, lưỡi liềm, lưỡi thuổng, mai, dao. Phần lớn việc là sửa, như rèn lại răng liềm, đắp sắt vào lưỡi cuốc mòn, nắn lưỡi cày cong. Đầu vụ là lúc lò rèn đông khách nhất.
Trui lưỡi liềm là gì?
Trui là nung lưỡi sắt tới nhiệt độ thích hợp rồi nhúng nhanh vào nước để lưỡi cứng lại. Trui đúng thì lưỡi vừa cứng vừa dẻo, giữ sắc lâu. Trui quá tay thì lưỡi giòn, dễ mẻ; trui chưa tới thì lưỡi mềm, nhanh cùn. Thợ rèn nhìn màu sắt nung để quyết định lúc trui.
Làng rèn nào nổi tiếng ở miền Bắc?
Một số làng rèn được biết đến nhiều là Đa Sỹ ở Hà Nội, Phúc Sen của người Nùng An ở Cao Bằng và Vân Chàng ở Ninh Bình, trước thuộc Nam Định. Ngoài ra còn rất nhiều lò rèn nhỏ ở chợ quê, đầu làng phục vụ nhà nông trong vùng.
Vì sao đan tre phải ngâm tre trước?
Ngâm tre trong nước giúp giảm lượng tinh bột và đường trong thân tre, vốn là thức ăn của mọt. Tre ngâm xong chẻ nan sẽ bền hơn, ít bị mọt và mốc. Ở nhiều nơi, đồ tre còn được hun khói trên gác bếp để tăng độ bền.
Nghề rèn và nghề đan hiện còn không?
Vẫn còn, nhưng thay đổi nhiều. Nhiều lò rèn chuyển sang làm dao kéo gia dụng, đồ mỹ nghệ, dùng máy để tăng năng suất. Nhiều làng đan làm hàng mây tre xuất khẩu và đồ trang trí. Ở vùng cao, thợ rèn và thợ đan vẫn làm nông cụ cho người trong vùng.
Làm sao ghi lại nghề của thợ rèn, thợ đan trong làng mình?
Hỏi chuyện thợ về cách học nghề, tên dụng cụ, các bước làm; xin phép chụp ảnh, quay phim lúc họ làm việc; ghi lại tên từng loại sản phẩm và công dụng. Lưu cùng ngày tháng, tên người thợ và địa phương. Những tư liệu ấy có ích cho con cháu, trường học và bảo tàng địa phương.