PhuNong.comPhú Nông
Nông cụ xưa

Nông cụ xưa của nhà nông Việt: tên gọi và công dụng theo từng khâu của một vụ lúa

Cày, bừa, gàu, liềm, néo, cối xay, nong nia: nông cụ xưa của nhà nông Việt xếp theo từng khâu một vụ lúa, làm bằng gì, ai làm ra và vì sao có hình dạng ấy.

Old wooden plough, bamboo winnowing basket and sickle leaning on a mud wall of a northern Vietnamese farmhouse, low angle, morning light

Nông cụ xưa của nhà nông Việt là bộ đồ nghề làm bằng gỗ, tre, sắt và đá, đi theo đúng từng khâu của một vụ lúa: cày, bừa để làm đất; gàu sòng, gàu dai để đưa nước; liềm, hái để gặt; néo, bồ đập để tách hạt; cối xay, cối giã để ra gạo; nong, nia, giần, sàng để phơi và làm sạch. Gần như mọi thứ đều do người trong làng làm ra hoặc mua của thợ rèn, thợ đan, thợ đóng cối ở làng bên.

Hiểu nông cụ xưa theo khâu sẽ dễ hơn học thuộc từng cái tên. Mỗi dụng cụ là lời giải cho một việc cụ thể trong điều kiện không có máy: sức người, sức trâu bò, sức nước và vật liệu sẵn quanh nhà. Phần dưới đi qua từng khâu, kèm khác biệt giữa các vùng và lý do vì sao một vật trông đơn sơ lại dùng được hàng trăm năm.

Vì sao nên xếp nông cụ xưa theo từng khâu của vụ lúa

Người nông dân đồng bằng ngày trước không nghĩ về nông cụ như một bộ sưu tập. Họ nghĩ theo việc: sáng nay đi cày, chiều tát nước, mai đi gặt. Mỗi việc cần một thứ trong tay, và cái gì không còn việc thì bị treo lên gác bếp hoặc gác chuồng trâu cho tới vụ sau.

Vì thế, cách hiểu nông cụ gần với người xưa nhất là đi theo vòng một vụ lúa nước. Vòng ấy có sáu khâu lớn: làm đất, đưa nước và giữ nước, gieo cấy và chăm, gặt, tách hạt và làm sạch, chế biến thóc thành gạo. Thêm một nhóm đồ đựng, đồ phơi và đồ gánh dùng xuyên suốt.

Xếp theo khâu còn giúp nhận ra một điều thú vị: số dụng cụ dồn nhiều nhất vào hai đầu của vụ. Làm đất và chế biến sau thu hoạch là hai việc nặng, lặp lại nhiều, nên người xưa nghĩ ra nhiều thứ để đỡ sức nhất. Khâu giữa, lúc lúa đang lớn, chủ yếu là đôi tay, bàn chân và chiếc cuốc làm cỏ.

Một lưu ý về tên gọi: cùng một vật có thể mang tên khác nhau giữa Bắc, Trung, Nam, thậm chí giữa hai làng cách nhau một con đê. Bài này dùng tên phổ biến nhất ở đồng bằng Bắc Bộ, ghi thêm tên miền khác khi chắc.

Bảng tổng quan: nông cụ xưa theo sáu khâu của một vụ lúa

Bảng dưới gom các nông cụ quen thuộc nhất của vùng lúa nước đồng bằng. Vùng cao và Tây Nguyên có bộ đồ nghề riêng, kể ở mục sau.

KhâuNông cụ chínhVật liệuSức kéo hay sức đẩy
Làm đấtCày, bừa, trục, cuốc, thuổng, maiGỗ, tre, lưỡi sắtTrâu, bò, sức người
Đưa và giữ nướcGàu sòng, gàu dai, cọn nước (vùng cao)Tre đan, gỗ, ống bươngSức người, sức dòng suối
Gieo cấy, chămMạ cấy bằng tay, cào cỏ, cuốc nhỏTre, sắtSức người
GặtLiềm, háiLưỡi sắt, cán gỗSức người
Tách hạt, làm sạchNéo, bồ đập, trục lăn đá, quạt hòm, nia sảyTre, gỗ, đáNgười, trâu, gió
Thóc thành gạoCối xay, cối giã, cối đạp, giần, sàngTre, đất sét, gỗ, đáSức người, sức nước (vùng cao)

Nhìn cột vật liệu sẽ thấy sắt chỉ xuất hiện ở phần tiếp xúc với đất hay với thân lúa: lưỡi cày, lưỡi cuốc, lưỡi liềm. Phần còn lại là tre và gỗ, thứ nhà nào cũng tự kiếm được. Đó là bài toán chi phí của người xưa: mua sắt ít nhất có thể, phần còn lại tự làm hoặc nhờ thợ trong làng.

Làm đất và đưa nước: hai khâu nặng nhất

Cái cày. Thân gỗ cong, lưỡi sắt hình tam giác và tấm diệp cong để lật đất. Một người giữ chuôi, một con trâu hay bò kéo. Cày lật lớp đất mặt, vùi gốc rạ và cỏ để chúng mục thành chất mùn.

Cái bừa và cái trục. Sau cày, đất còn từng tảng. Bừa có hàng răng gỗ hoặc sắt kéo qua để đánh nhuyễn; trục là khúc gỗ hay khúc đá có khía, trâu kéo lăn cho bùn mịn và mặt ruộng phẳng, nước đứng đều.

Cuốc, thuổng, mai. Những góc ruộng trâu không quay đầu được, bờ ruộng cần đắp, mương cần khơi đều phải dùng sức người với cuốc, thuổng, mai. Đây cũng là bộ đồ đi đắp đê mỗi mùa khô.

Gàu sòng và gàu dai. Khi ruộng cao hơn mương, nhà nông tát nước lên. Gàu sòng treo trên giá ba chân, một người đẩy; gàu dai có bốn sợi dây, hai người đứng hai bờ đưa nhịp, hắt được nước lên cao hơn.

Cọn nước ở vùng cao. Người Thái, người Tày và nhiều dân tộc miền núi phía Bắc dựng bánh xe tre bên suối. Dòng nước làm bánh quay, ống bương buộc ở vành múc nước rồi đổ vào máng dẫn lên ruộng, ngày đêm không cần người đứng.

Gieo cấy và gặt: đôi tay là nông cụ chính

Khâu cấy gần như không có dụng cụ. Người ta nhổ mạ bằng tay, bó mạ bằng lạt tre, gánh ra ruộng bằng quang gánh, rồi cấy bằng ba ngón tay ấn gốc mạ xuống bùn. Dụng cụ duy nhất đáng kể là chiếc nón và tấm áo tơi bằng lá cọ hay lá gồi chống mưa phùn tháng Giêng.

Thời lúa đứng cái, người ta làm cỏ bằng tay, sục bùn bằng chân, nơi đất cứng thì dùng cái cào cỏ có răng sắt ngắn. Ở Nam Bộ, cỏ trên ruộng sâu được phát bằng phảng, loại dao lưỡi dài cán gỗ đặc trưng của vùng đất mới khai phá.

Đến mùa gặt, chiếc liềm có răng cưa là thứ phổ biến nhất ở đồng bằng Bắc Bộ: tay trái nắm một nắm lúa, tay phải kéo liềm cắt ngang. Một số vùng trung du và Bắc Trung Bộ dùng cái hái, loại dụng cụ có móc gỗ dài để gom nhiều khóm lúa rồi cắt một lần. Lúa gặt xong bó thành lượm, gánh về bằng đòn xóc, loại đòn gánh hai đầu vót nhọn để xiên vào bó lúa.

Ở những vùng ruộng sâu, nước ngập tới đùi, người ta còn chở lúa bằng thuyền nan, xuồng nhỏ, hoặc kéo cả bè chuối. Mỗi vùng chọn cách vận chuyển hợp với mặt ruộng của mình.

Sau gặt: tách hạt, làm sạch, xay giã thành gạo

Lúa gánh về sân được tách hạt theo nhiều cách. Miền Bắc phổ biến cái néo: hai đoạn tre nối bằng dây, kẹp chặt bó lúa rồi quật lên phiến đá hay cối úp ngược. Nam Bộ quen với bồ đập, một chiếc thùng gỗ lớn có phên che ba phía, người đứng quật bó lúa vào thành thùng. Nhiều vùng Nam Trung Bộ và Nam Bộ còn cho trâu kéo trục lăn đá đi vòng trên lúa trải khắp sân.

Thóc lẫn rơm vụn, hạt lép được làm sạch bằng gió. Ngày lặng gió thì có quạt hòm, một hộp gỗ có cánh quạt quay tay, thóc chắc rơi xuống máng, hạt lép và bụi bay ra cửa gió. Nhà không có quạt hòm thì sảy bằng nia và quạt bằng quạt nan.

Thóc phơi khô đổ vào cót, bồ, chum để dành. Khi cần gạo, người ta xay thóc bằng cối xay tre nhồi đất sét để tách vỏ trấu, được gạo lứt; rồi giã bằng cối đá hoặc cối gỗ để bóc lớp cám, được gạo trắng. Cuối cùng là giần và sàng để tách tấm, cám, thóc sót. Một nồi cơm ngày xưa đi qua ít nhất bốn dụng cụ chỉ riêng ở khâu này.

Đây cũng là khâu giữ được nhiều nông cụ nhất trong ký ức người lớn tuổi, vì nó diễn ra ngay trong sân nhà, gắn với tiếng chày đêm trăng và những câu hò giã gạo.

Đồ gánh, đồ đựng: nhóm nông cụ đi suốt cả vụ

Có một nhóm đồ không gắn với khâu nào mà có mặt ở mọi khâu: quang gánh, đòn gánh, thúng, mủng, bồ, cót, chum, vại. Nhà nông Việt ngày trước vận chuyển gần như mọi thứ bằng vai: mạ ra ruộng, phân ra đồng, lúa về sân, thóc đi chợ. Chiếc đòn gánh tre, đôi quang mây hoặc quang thừng và đôi thúng là "phương tiện vận tải" quen thuộc nhất của làng.

Đòn gánh thường làm bằng tre già, vót dẹt ở giữa để êm vai, hai đầu có mấu giữ quang. Riêng đòn xóc vót nhọn hai đầu để xiên thẳng vào bó lúa, bó rơm, không cần quang. Người gánh lâu năm có dáng đi nhún nhịp nhàng để đòn gánh nảy theo bước chân, đỡ mỏi hơn hẳn đi cứng.

Đồ đựng thóc cũng có thứ bậc. Thóc ăn hằng ngày để trong thúng, trong bồ đan; thóc dành lâu thì cho vào cót quây tròn hoặc chum vại, đậy kín, kê cao khỏi nền ẩm. Nhà khá giả có bồ thóc lớn, có khi cả gian kho. Số bồ thóc trong nhà từng là thước đo sung túc mà ai trong làng cũng nhìn thấy, nên mới có những câu như "thóc đầy bồ" để chỉ năm được mùa.

Nông cụ của vùng cao và Tây Nguyên: một bộ đồ nghề khác

Nếu chỉ nhìn đồng bằng sẽ dễ nghĩ nông cụ Việt là cày bừa và gàu. Trên núi và cao nguyên, nơi phần lớn là nương rẫy và ruộng bậc thang, bộ đồ nghề khác hẳn và hợp với địa hình đó.

Ở Tây Nguyên, người Ba Na, Gia Rai, Ê Đê, Xơ Đăng dùng chà gạc, loại dao cán dài lưỡi cong ở đầu, để phát rẫy. Hạt lúa rẫy được tra bằng gậy chọc lỗ: người đi trước chọc lỗ, người đi sau bỏ hạt và lấp đất. Lúa chín được tuốt bằng tay vào chiếc gùi đeo trước bụng hoặc sau lưng. Gùi là vật đa năng nhất của người vùng cao: đựng lúa, ngô, củi, nước, đồ đi chợ.

Ở miền núi phía Bắc, người Mông, người Dao làm ruộng bậc thang và nương ngô với chiếc cày nhỏ do bò hoặc ngựa kéo, hợp với mặt ruộng hẹp. Cối giã gạo chạy bằng sức nước, một đòn gỗ có máng hứng nước ở đầu, nâng chày lên rồi thả xuống, là hình ảnh còn gặp ở nhiều bản bên suối.

Những nông cụ ấy không phải phiên bản kém hơn của cày bừa đồng bằng. Chúng sinh ra cho đất dốc, đất đá, mùa mưa ngắn, và nhiều cái vẫn đang được dùng hằng ngày.

Nông cụ xưa hôm nay: còn ở đâu và nên nhìn chúng thế nào

Máy cày, máy gặt đập liên hợp và máy xát đã thay phần lớn nông cụ xưa ở đồng bằng từ cuối thế kỷ 20. Nhưng các dụng cụ ấy chưa biến mất hẳn:

  • Trong nhà: liềm, cuốc, thuổng, rổ rá, thúng mủng vẫn dùng ở vườn và bếp; nong nia vẫn phơi ngô, phơi hành, phơi cau ở nhiều làng.
  • Ở vùng cao: cày bò, gùi, chà gạc, cối giã nước vẫn là đồ dùng thật, không phải đồ trưng bày.
  • Ở bảo tàng và nhà trưng bày: Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam ở Hà Nội và nhiều bảo tàng tỉnh có khu nông cụ, thường kèm ảnh tư liệu cách dùng.
  • Trong quán ăn, homestay, khu du lịch nông thôn: cày, bừa, cối xay được treo làm trang trí. Khi gặp, nên hỏi xem đó là đồ thật đã qua sử dụng hay đồ đóng mới, vì nhiều món là đồ làm lại.
  • Trong ký ức người lớn tuổi: tên bộ phận, cách cầm, cách sửa. Phần này mất nhanh nhất và đáng ghi lại nhất.

Nếu nhà còn giữ một chiếc cày hay một cái cối xay của ông bà, giá trị lớn nhất của nó không nằm ở tuổi đời mà ở câu chuyện đi kèm: ai dùng, dùng ở thửa ruộng nào, sửa ở lò rèn nào. Ghi lại những điều đó trước khi người kể không còn.

Câu hỏi thường gặp

Nông cụ nào quan trọng nhất với nhà nông trồng lúa nước ngày xưa?

Nếu phải chọn một thì đó là cái cày, vì không cày thì không có ruộng để cấy. Nhưng cày chỉ dùng được khi có trâu hoặc bò, nên người xưa coi con trâu và cái cày là một cặp. Câu "con trâu là đầu cơ nghiệp" cũng nói đến cả sức kéo lẫn bộ đồ cày đi kèm.

Nông cụ xưa được làm bằng những vật liệu gì?

Chủ yếu là tre, gỗ, đá, đất sét và một ít sắt. Sắt dành cho phần chịu mài mòn như lưỡi cày, lưỡi cuốc, lưỡi liềm. Tre dùng cho đồ đan và cán; gỗ cho thân cày, cối; đá cho cối giã, trục lăn; đất sét trộn với các chất khác nhồi vào cối xay.

Vì sao nông cụ mỗi vùng lại khác nhau dù cùng trồng lúa?

Vì mặt ruộng, loại đất và sức kéo khác nhau. Ruộng bậc thang hẹp cần cày nhỏ; ruộng Nam Bộ rộng, đất mềm, có nơi dùng hai trâu kéo; đồng chiêm trũng phải chở lúa bằng thuyền. Vật liệu sẵn có ở từng nơi cũng quyết định hình dạng và tên gọi.

Nông cụ xưa nào hiện vẫn còn được dùng?

Ở đồng bằng, liềm, cuốc, thuổng, rổ rá, nong nia vẫn dùng trong vườn và bếp. Ở miền núi phía Bắc và Tây Nguyên, cày bò, gùi, chà gạc và cối giã bằng sức nước vẫn là đồ dùng hằng ngày ở nhiều bản làng, nhất là nơi ruộng nhỏ, dốc, máy khó vào.

Có thể xem nông cụ xưa ở đâu để dạy con?

Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam ở Hà Nội và các bảo tàng tỉnh thường có khu trưng bày nông cụ. Cách tốt hơn là về quê hỏi ông bà, cho trẻ cầm thử chiếc liềm, chiếc nia dưới sự trông chừng của người lớn, và ghi lại lời kể về cách dùng.

Làm sao phân biệt nông cụ cũ thật với đồ đóng mới để trang trí?

Đồ đã qua sử dụng thường có vết mòn ở chỗ tay cầm và chỗ chạm đất, gỗ sẫm màu đều theo thời gian, lưỡi sắt có dấu mài nhiều lần. Đồ đóng mới thường sạch, cạnh sắc, màu gỗ đồng đều. Cách chắc nhất vẫn là hỏi người bán hoặc chủ nhà về nguồn gốc.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.