Thời quân chủ, người có ruộng phải nộp thuế ruộng cho nhà nước, chủ yếu bằng thóc, mức thuế tính theo diện tích và hạng ruộng tốt xấu, ruộng công và ruộng tư chịu mức khác nhau. Thóc thuế được đưa về các kho ở kinh đô và ở các trấn, tỉnh, dùng trả lương quan lại, nuôi quân, và dự trữ để cứu đói khi mất mùa.
Bên cạnh kho của nhà nước, nhiều làng có kho thóc chung, còn mỗi gia đình nhà nông có bồ thóc, cót thóc của riêng mình. Bài này đi qua cả ba tầng ấy: thuế ruộng được tính thế nào, thóc thuế đi đâu, và người xưa trữ lương, cứu đói ra sao khi thiên tai đến.
Thuế ruộng và thuế đinh: hai nguồn thu chính
Hệ thống thuế thời quân chủ Việt Nam dựa trên hai trụ: thuế ruộng tính trên đất canh tác, và thuế đinh tính trên đầu người đàn ông trong độ tuổi lao động. Ngoài ra còn các khoản thuế đầm ao, bãi dâu, thổ sản, thuế chợ, thuế đò, nhưng thuế ruộng và thuế đinh là phần lớn nhất.
Thuế ruộng thường nộp bằng thóc, có thời có nơi được nộp một phần bằng tiền. Thuế đinh thường nộp bằng tiền, kèm nghĩa vụ đi lính, đi phu. Hai bộ sổ địa bạ và đinh bạ ra đời chính là để làm căn cứ thu hai loại thuế này.
Trong nhiều thế kỷ, quyền thu thuế ở làng nằm trong tay chức dịch. Nhà nước giao cho mỗi làng một mức thuế tổng theo sổ, làng tự chia cho từng hộ. Cách làm này giảm việc cho bộ máy nhà nước, nhưng cũng tạo chỗ cho chức dịch làng thiên vị, và là lý do vì sao lý trưởng, phó lý giữ vị trí rất quan trọng trong đời sống nông thôn xưa.
Với một gia đình nhà nông, gánh nặng thực tế là tổng của nhiều khoản: thuế ruộng nộp nhà nước, phần đóng góp cho làng, tiền lễ lạt, cộng với địa tô nếu phải cấy thuê ruộng người khác. Chính vì vậy, một năm mất mùa mà không được giảm thuế có thể đẩy nhiều hộ đến chỗ phải bán ruộng, bỏ làng.
Thuế tính theo hạng ruộng và loại ruộng
Ruộng được xếp hạng theo độ tốt. Thời Nguyễn, ruộng thường chia ba hạng, gọi là nhất đẳng, nhị đẳng, tam đẳng điền; ruộng hạng tốt chịu thuế cao hơn ruộng hạng xấu. Việc xếp hạng do làng kê khai và quan sở tại xét, nên luôn là chỗ dễ phát sinh tranh cãi và gian lận.
Ruộng công và ruộng tư chịu mức thuế khác nhau. Nhìn chung, ruộng công thường chịu thuế cao hơn ruộng tư cùng hạng, vì người cày ruộng công không phải bỏ tiền mua ruộng. Mức thuế cụ thể thay đổi theo từng triều, từng đời vua, và có sự khác biệt giữa các vùng, ví dụ giữa đồng bằng Bắc Bộ và vùng đất mới ở Nam Kỳ.
Sử cũ còn ghi những lần triều đình điều chỉnh thuế: định lại mức thuế sau chiến tranh, giảm thuế cho vùng mới khai hoang trong vài năm đầu để khuyến khích dân đến khai phá, hoặc tăng thuế khi cần chi tiêu lớn. Đọc những thay đổi ấy, người nghiên cứu thấy được nhịp kinh tế nông nghiệp của từng thời.
Đong thóc nộp thuế: những đơn vị đo xưa
Ngày nộp thuế, thóc được đong bằng các dụng cụ đo dung tích. Tên gọi và dung tích thay đổi theo thời và theo vùng, những tên thường gặp là:
- Thưng và đấu: dụng cụ đong nhỏ bằng gỗ hoặc tre, dùng trong mua bán hằng ngày ở chợ quê và trong việc đong thóc nộp, thóc trả nợ.
- Hộc: đơn vị lớn hơn, dùng khi đong số lượng nhiều, như thóc thuế hay thóc thu hoạch của cả nhà.
- Phương: đơn vị thời Nguyễn, thường được nhắc trong văn bản thuế khoá và trong lời kể của người già ở miền Trung, miền Nam.
- Giạ: đơn vị quen thuộc ở Nam Bộ, người miền Tây vẫn nói "mấy chục giạ lúa" khi kể về năng suất ruộng nhà mình.
- Cân, tạ: về sau, khi cân được dùng phổ biến, thóc chuyển sang tính theo trọng lượng, nhưng nhiều nơi vẫn quen đong bằng thùng, bằng giạ.
Việc dụng cụ đo không thống nhất giữa các nơi là một nguồn tranh chấp lâu đời. Các triều đại nhiều lần ban hành dụng cụ đo chuẩn, nhưng tập quán đong đếm ở làng vẫn giữ nét riêng cho tới thế kỷ 20.
Thóc thuế đi về đâu
Thóc thuế được làng gom lại, chở đến kho của phủ, huyện, trấn, rồi một phần chuyển về kinh đô. Việc vận chuyển chủ yếu bằng thuyền theo sông và đường biển ven bờ. Ở thời Nguyễn, thóc từ các tỉnh phía Nam được chở ra Huế bằng thuyền vận tải của nhà nước, việc chuyên chở ấy chiếm một phần lớn hoạt động của thuỷ binh và thuyền buôn được trưng dụng.
Thóc trong kho dùng trả lương cho quan lại và binh lính, phần lớn lương thời quân chủ được trả bằng cả tiền và thóc gạo. Một phần dùng cho việc tế lễ, việc xây dựng, việc nuôi tù và người làm việc cho nhà nước. Phần còn lại là dự trữ, phòng khi chiến tranh hay mất mùa.
Giữ thóc trong kho lâu năm là việc không dễ ở xứ nóng ẩm. Thóc bị mọt, ẩm mốc, chuột phá; quan coi kho phải định kỳ phơi đảo, thay thóc cũ bằng thóc mới. Sử cũ và văn bản hành chính ghi không ít vụ hao hụt kho, quan coi kho bị xử vì để thóc mục hoặc gian lận.
Kho dự trữ: từ kho nhà nước đến kho nghĩa của làng
Ý tưởng mua thóc vào khi được mùa giá rẻ, bán ra khi mất mùa giá đắt để giữ giá và cứu dân có từ lâu ở các nước dùng chữ Hán, thường gọi là kho thường bình. Thời Nguyễn, triều đình có lệnh lập kho dự trữ theo tinh thần này ở các tỉnh, mức độ thực hiện khác nhau tuỳ nơi và tuỳ thời.
Ở tầng làng, nhiều nơi có lệ lập kho nghĩa thương, hay kho thóc của làng. Mỗi vụ, các hộ góp một ít thóc theo quy định của hương ước; năm mất mùa, làng mở kho cho vay hoặc phát cho người túng thiếu, được mùa thì thu lại. Kho nghĩa vừa là quỹ cứu trợ, vừa là nơi giữ thóc giống cho cả làng.
Những thiết chế ấy cho thấy người xưa hiểu rõ rủi ro của nghề nông phụ thuộc thời tiết. Không có bảo hiểm mùa màng hay hệ thống cứu trợ hiện đại, kho thóc chung là tấm đệm giúp làng đi qua một hai vụ mất mùa mà không phải bỏ làng tha phương.
Khi mất mùa: miễn thuế, phát chẩn và quyên thóc
Miễn, giảm thuế. Sử cũ ghi rất nhiều lần nhà vua ra lệnh miễn hoặc giảm thuế ruộng cho những vùng bị lụt, hạn, sâu bệnh. Có khi miễn cả năm, có khi miễn một phần, có khi cho nộp chậm sang vụ sau.
Phát chẩn. Khi đói lớn, triều đình mở kho phát thóc, gạo, tiền cho dân, gọi là phát chẩn. Quan địa phương lập danh sách hộ đói, phát theo đầu người. Việc phát chẩn chậm hay bị bớt xén là chuyện sử cũ cũng ghi lại và có khi quan bị trị tội.
Cho vay thóc giống. Sau thiên tai, thiếu thóc giống là mối lo lớn nhất, vì không có giống thì vụ sau cũng hỏng. Nhà nước và làng thường cho vay thóc giống để dân kịp gieo cấy, trả lại sau thu hoạch.
Khuyến khích người giàu góp thóc. Có thời nhà nước khuyến khích nhà giàu quyên thóc cứu đói, đổi lại được ban thưởng phẩm hàm hay giảm một số nghĩa vụ. Cách làm này giúp huy động lương thực nhanh, nhưng cũng bị phê phán khi biến thành việc mua danh.
Cấm đầu cơ và chuyển thóc ra khỏi vùng đói. Một số lệnh cấm tích trữ, cấm buôn thóc gạo ra ngoài vùng đang đói được ban ra trong các năm mất mùa, nhằm giữ lương thực tại chỗ và chống đầu cơ đẩy giá.
Ví dụ giả định: một vụ lúa của hộ nông dân xưa đi về đâu
Để hình dung gánh nặng thực tế, hãy lấy một ví dụ giả định về một hộ nông dân đồng bằng Bắc Bộ thế kỷ 19, các tỉ lệ dưới đây chỉ để minh hoạ, không phải số liệu lịch sử. Hộ có vài sào ruộng tư hạng nhì, nhận thêm một suất ruộng công, cấy hai vụ. Sau vụ gặt, cả nhà phơi thóc, quạt sạch rồi đem đong để biết năm nay được bao nhiêu.
Phần đầu tiên dành ra là thóc giống cho vụ sau, cất riêng. Phần thứ hai là thóc thuế nộp cho nhà nước theo diện tích và hạng ruộng, cộng phần thóc góp vào kho nghĩa của làng. Nếu nhà có cấy rẽ ruộng của người khác, phải trả thêm phần địa tô, nhiều khi bằng khoảng một nửa thu hoạch trên mảnh ruộng ấy. Còn lại mới là thóc ăn của cả nhà đến vụ sau.
Trong năm bình thường, phần còn lại đủ ăn và có chút dư để bán đổi lấy muối, vải, trả công thợ. Năm mất mùa, thu hoạch giảm một nửa nhưng thóc giống và thuế vẫn phải dành ra, phần ăn bị thu hẹp lại rất nhanh. Chính phép tính đơn giản này giải thích vì sao lệnh miễn giảm thuế, kho nghĩa của làng và bồ thóc dự trữ lại quan trọng với người làm ruộng đến vậy.
Bồ thóc trong nhà nông: lớp dự trữ cuối cùng
Tầng dự trữ gần nhất với người nông dân là bồ thóc trong nhà. Bồ đan bằng tre, trát vách bằng đất trộn trấu hoặc phân trâu cho kín, đặt trên kệ gỗ cho khỏi ẩm; cót quây thành vòng tròn, chum, vại đựng thóc giống. Mùa gặt, thóc phơi thật khô mới cho vào bồ, lớp trên cùng có khi phủ tro bếp hay lá xoan để chống mọt.
Lượng thóc trong bồ là thước đo đời sống của một nhà: đủ ăn đến vụ sau, hay phải đi vay khi giáp hạt. Thóc cũng là "tiền" của làng quê: trả công cấy gặt bằng thóc, trả nợ bằng thóc, đổi lấy muối, mắm, vải ở chợ. Người làng nói "nhà ấy có của" thường là nói nhà có bồ thóc đầy.
Thóc giống được cất riêng, chọn từ những bông đẹp nhất ngoài ruộng, phơi kỹ, để nơi khô ráo, có nhà treo lên gác bếp. Ông bà dặn đói thì đói, không được ăn vào thóc giống, vì ăn hết giống là mất cả vụ sau. Lời dặn ấy là bài học về dự trữ mà nhiều gia đình còn nhắc đến hôm nay.
Câu hỏi thường gặp
Ngày xưa thuế ruộng có nặng không?
Mức thuế danh nghĩa trên mỗi mẫu ruộng không phải lúc nào cũng cao, nhưng gánh nặng thực tế phụ thuộc vào nhiều khoản cộng lại: thuế ruộng, thuế đinh, phu dịch, đóng góp cho làng, và cách quan lại địa phương thu. Những năm mất mùa mà không được giảm thuế là lúc gánh nặng trở nên rất lớn với nông dân nghèo.
Vì sao ruộng công lại chịu thuế cao hơn ruộng tư?
Người cày ruộng công không phải bỏ tiền mua ruộng, chỉ nhận ruộng làng chia theo suất, nên nhà nước coi phần thuế cao hơn như một khoản bù cho quyền sử dụng ấy. Người có ruộng tư đã bỏ vốn mua hoặc khai hoang, nên được tính thuế nhẹ hơn. Mức chênh cụ thể thay đổi theo từng thời.
Kho nghĩa thương của làng hoạt động thế nào?
Hương ước quy định mỗi hộ góp một lượng thóc nhất định sau mỗi vụ. Thóc được cất ở kho chung, có người trông coi và sổ sách. Năm đói, làng mở kho cho vay hoặc phát cho hộ túng thiếu; năm được mùa, người vay trả lại, có khi kèm một chút lãi để quỹ tăng dần.
Giữ thóc trong bồ được bao lâu?
Nếu thóc phơi thật khô, bồ kín, để nơi thoáng và cao ráo, thóc có thể giữ qua một đến hai năm mà ít hư. Thóc để lâu dễ bị mọt, chuột, ẩm mốc, gạo xay ra kém ngon. Vì vậy nhà nông thường ăn thóc cũ trước, để thóc mới làm dự trữ và làm giống.
Có tư liệu nào ghi lại việc phát chẩn cứu đói thời xưa không?
Các bộ sử như Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Nam thực lục chép nhiều lần phát chẩn, miễn thuế, ghi năm, vùng và mức độ. Châu bản triều Nguyễn, tức các văn bản hành chính có bút phê của nhà vua, cũng lưu nhiều báo cáo của quan địa phương về mất mùa và cứu đói.
Giạ lúa ở Nam Bộ nặng bao nhiêu?
Giạ là đơn vị đo dung tích, không phải trọng lượng, nên số ký thóc trong một giạ thay đổi theo loại lúa và độ khô. Người miền Tây thường quy đổi một giạ lúa vào khoảng hai chục ký, nhưng con số này chỉ là ước lệ, mỗi nơi mỗi thời có thể khác.