Vốn từ nhà nông là một phần di sản dễ mất nhất: các đơn vị đo ruộng và thóc (sào, mẫu, công, thưng, đấu, giạ), tên các việc theo mùa (cày ải, cày dầm, cấy dặm, giáp hạt), tên nông cụ (nống, giần, sàng, mủng) và cách tổ chức lao động (đổi công, vần công). Khi việc không còn, từ cũng thôi được dùng; con cháu đọc ca dao, nghe ông bà nói mà không hiểu.
Bài này giải nghĩa một số nhóm từ tiêu biểu, ghi rõ chỗ khác nhau giữa các vùng, và gợi ý cách một gia đình, một lớp học, một làng làm sổ từ ngữ của mình. Các con số quy đổi đơn vị cũ là mức thường gặp, mỗi nơi có thể khác; khi dùng cho giấy tờ, phải theo đơn vị đo chính thức hiện hành.
Đơn vị đo ruộng đất: sào, mẫu, công
Đơn vị đo ruộng cũ vẫn còn trong lời nói hằng ngày ở nông thôn, dù giấy tờ đất đai nay ghi bằng mét vuông. Cùng một tên, mỗi vùng một chuẩn, nên hai người ở hai miền nói "một sào" có thể đang nói hai diện tích khác nhau.
| Đơn vị | Vùng dùng nhiều | Mức quy đổi thường gặp | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| Sào Bắc Bộ | Đồng bằng và trung du Bắc Bộ | Khoảng 360 m² | Một sào bằng 15 thước; một thước khoảng 24 m² |
| Mẫu Bắc Bộ | Bắc Bộ | Khoảng 3.600 m² (10 sào) | Câu "ba mẫu ruộng" trong văn cũ là khoảng hơn một hécta |
| Sào Trung Bộ | Nhiều nơi Bắc Trung Bộ, Trung Bộ | Khoảng 500 m² | Mẫu tương ứng khoảng 5.000 m²; có nơi lệch |
| Công | Nam Bộ | Khoảng 1.000 m² (công tầm nhỏ) hoặc khoảng 1.300 m² (công tầm lớn) | Gốc từ diện tích một người làm trong một ngày công |
| Thước, tấc | Bắc Bộ, Trung Bộ | Đơn vị nhỏ hơn sào | Dùng khi chia đất vườn, đất ở |
Vì sao mỗi vùng một chuẩn? Đơn vị đo ruộng xưa gắn với sức làm của người và trâu, với thước đo của từng triều đại và từng địa phương, chứ không do một chuẩn thống nhất. Khi nghe ông bà nói về ruộng, nên hỏi lại "sào ở làng mình là bao nhiêu" để hiểu đúng.
Đơn vị đo thóc gạo: thưng, đấu, bát, giạ, thùng
Trước khi có cân phổ biến ở nông thôn, thóc gạo được đong bằng dụng cụ đo thể tích. Ở miền Bắc hay nghe thưng và đấu: những hộp gỗ vuông hoặc ống tre có dung tích quy ước, dùng để đong thóc khi vay mượn, trả công, nộp tô. Câu "đong đầy bán vơi" hay "đấu nhỏ đấu to" trong lời ăn tiếng nói xưa nói về chuyện gian lận đo lường, cho thấy dụng cụ đong từng là chuyện quan trọng trong làng.
Ở Nam Bộ quen nghe giạ và thùng; câu "lúa mấy chục giạ một công" là cách nói năng suất ruộng của người miền Tây trước khi tính bằng tấn trên hécta. Dung tích của giạ, thùng, thưng, đấu khác nhau tuỳ nơi và từng thời, nên khi đọc tư liệu cũ hoặc nghe ông bà kể, không nên tự quy đổi máy móc; tốt nhất ghi lại đúng cách nói kèm giải thích của người kể.
Nhiều nhà ở quê vẫn còn cái đấu, cái thưng bằng gỗ trên gác. Đó là hiện vật đáng giữ cho góc trưng bày của làng: một món đồ nhỏ kể được cả chuyện vay mượn, trả công, mua bán thóc gạo thời trước.
Tên các việc theo mùa: mỗi từ là một kỹ thuật
Cày ải. Cày lật đất sau gặt rồi để phơi nắng cho đất khô, tơi, nhiều nơi gọi là "phơi ải". Nông học ngày nay giải thích phơi ải giúp đất thoáng khí, phân giải chất hữu cơ, giảm một phần sâu bệnh.
Cày dầm. Cày khi ruộng còn ngập nước, thường ở ruộng trũng không phơi ải được. Hai từ "ải" và "dầm" cho biết ngay loại ruộng: chân cao hay chân trũng.
Cấy dặm. Cấy bổ sung vào chỗ mạ chết, khóm thưa sau khi cấy. Việc nhỏ nhưng ai làm ruộng cũng biết, và nay ít trẻ nông thôn nghe từ này.
Giáp hạt. Khoảng thời gian thóc vụ trước đã ăn gần hết mà vụ sau chưa gặt, thường là lúc khó khăn nhất trong năm của nhà nông xưa. Thành ngữ "tháng ba ngày tám" ở miền Bắc chỉ hai kỳ giáp hạt quanh tháng ba và tháng tám âm lịch.
Đổi công, vần công. Các nhà trong xóm làm giúp nhau theo lượt: hôm nay cả nhóm cấy ruộng nhà này, mai cấy ruộng nhà kia, không trả tiền mà trả bằng công. Đây là cách tổ chức lao động phổ biến ở làng Việt và nhiều dân tộc khác, giúp xong việc kịp thời vụ.
Đi cấy thuê, đi gặt mướn. Những nhóm người theo mùa đi làm thuê ở vùng khác. Ở Nam Bộ có những đoàn "đi cắt lúa mướn" theo mùa gặt từ vùng này sang vùng khác.
Tên nông cụ: khi một chữ mang cả kích thước và công dụng
Đồ đan dùng cho thóc gạo có cả một họ từ mà người ở phố thường gộp chung là "cái nia". Trong khi đó, người nhà quê phân biệt rõ: nong là loại to, lòng phẳng, để phơi; nống còn to hơn nong ở một số vùng; nia nhỏ hơn, dùng để sảy, để hong; mẹt nhỏ hơn nữa, vành thấp; giần mắt nhỏ để tách tấm, cám; sàng mắt to hơn để tách thóc lẫn với gạo. Mỗi tên gắn với một kích thước, một mắt đan và một việc.
Nông cụ khác cũng vậy: cuốc và thuổng khác nhau ở hướng lưỡi; liềm và hái khác nhau ở cách cắt; gàu sòng và gàu dai khác nhau ở số người kéo và độ cao tát nước. Ở Nam Bộ có cái phảng phát cỏ, cây nọc cấy để chọc lỗ cấy trên ruộng đất cứng, bồ đập để đập lúa ngay ngoài ruộng. Ở vùng cao, gùi có nhiều loại theo kích thước, theo việc chở củi, chở lúa hay đi chợ, và mỗi dân tộc gọi bằng tiếng của mình.
Ngay trong tiếng Việt, một vật có thể có nhiều tên giữa các miền: cái thúng, cái mủng, cái rổ, cái rá, cái thúng mủng trong lời nói miền Bắc có thể tương ứng với những tên khác ở miền Trung, miền Nam, và ngược lại. Vì vậy sổ từ ngữ của làng nên ghi kèm ảnh và kích thước đồ vật, để người ở nơi khác đọc vẫn hiểu đúng thứ được nói tới, không chỉ dựa vào tên.
Khi những nông cụ này không còn dùng, tên gọi mất trước. Một cái nống còn nằm trên gác có thể được gọi chung là "cái nia to", và vài năm sau, chữ "nống" chỉ còn trong từ điển. Giữ tên gọi là giữ một phần hiểu biết về cách làm, vì tên thường nói luôn món đồ to cỡ nào và dùng vào việc gì.
Từ ngữ nông nghiệp của đồng bào dân tộc: ghi bằng chính tiếng của họ
Vốn từ nhà nông Việt Nam không chỉ là tiếng Việt. Người Thái có cả một hệ từ quanh mương phai, lái lịn để chia nước giữa các bản; người Hmông, Dao, Hà Nhì có từ riêng cho từng loại ruộng bậc thang, từng giai đoạn làm nương; các dân tộc Tây Nguyên có từ cho từng đám rẫy theo vòng luân canh, từng loại lúa rẫy, từng lễ trong năm. Nhiều khái niệm trong đó không có từ tương đương trong tiếng Việt phổ thông.
Khi ghi chép, nên giữ từ gốc trong tiếng dân tộc, ghi cách đọc gần đúng, rồi mới giải nghĩa bằng tiếng Việt. Dịch thẳng sang một từ tiếng Việt gần nghĩa thường làm mất sắc thái: một từ chỉ "ruộng" trong tiếng dân tộc có thể đồng thời cho biết ruộng ấy lấy nước từ đâu, thuộc dòng họ nào. Người ghi tốt nhất là chính người trong cộng đồng, hoặc người ngoài làm cùng với họ.
Ở nhiều nơi, các nhà ngôn ngữ học, giáo viên người dân tộc và cơ quan văn hoá đã biên soạn từ điển, tài liệu song ngữ; những tài liệu ấy là chỗ đối chiếu tốt. Nhưng từ ngữ nông nghiệp thường thay đổi theo từng bản, từng vùng, nên lời của người già trong bản vẫn là nguồn không thay được.
Từ trong ca dao, tục ngữ: đọc lại cho đúng nghĩa
Nhiều câu ca dao, tục ngữ quen thuộc chứa từ nhà nông mà trẻ em hôm nay hiểu sai hoặc đoán mò. "Ai ơi đừng bỏ ruộng hoang, bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu": "tấc" ở đây là đơn vị đo chiều dài nhỏ, câu nói rằng mỗi mẩu đất nhỏ cũng quý như vàng. "Trông trời, trông đất, trông mây; trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm" nói đúng nỗi lo của người làm ruộng phụ thuộc thời tiết.
Câu "Thứ nhất cày ải, thứ nhì vãi phân" xếp phơi ải lên trước bón phân, đúng với kinh nghiệm làm đất của vùng ruộng chân cao. "Ruộng sâu trâu nái" trong câu nói về gia sản xưa chỉ hai thứ của cải chính của nhà nông: ruộng tốt và trâu cái đẻ được nghé. Hiểu đúng các từ ấy, người đọc mới thấy được cả hệ giá trị của làng xưa.
Khi dạy trẻ đọc tục ngữ nông nghiệp, nên giải nghĩa từng chữ trước rồi mới bàn ý cả câu, và nếu có thể, đối chiếu với hiểu biết ngày nay: câu nào nông học còn xác nhận, câu nào chỉ đúng ở một vùng. Trẻ nhớ từ khi hiểu nó gắn với việc gì.
Làm sổ từ ngữ nhà nông của làng
Một cuốn sổ từ ngữ không cần dày. Vài trăm từ có giải nghĩa và ví dụ đã là tư liệu quý cho cả làng. Cách làm đơn giản như sau.
- Bắt đầu từ một chủ đề: ruộng và đơn vị đo, việc theo mùa, nông cụ, thóc gạo, chăn nuôi, thời tiết. Mỗi buổi hỏi một chủ đề.
- Hỏi người lớn tuổi trong nhà, trong xóm: ngày trước gọi cái này là gì, việc này là gì. Ghi đúng cách phát âm ở làng.
- Mỗi từ ghi một dòng: từ, nghĩa theo lời người kể, một câu ví dụ người ấy hay nói, người kể, ngày ghi.
- Với từ chỉ đồ vật, kèm ảnh nếu còn đồ vật; với từ chỉ đơn vị đo, ghi cách quy đổi theo người làng.
- Đối chiếu với làng bên hoặc từ điển phương ngữ nếu có, ghi chú chỗ khác nhau.
- Nhân bản sổ: một bản giấy cho nhà văn hoá thôn hoặc trường học, một bản điện tử để bổ sung dần.
Đây là việc rất hợp với học sinh lớp lớn: mỗi em hỏi ông bà nhà mình một chủ đề, cả lớp ghép lại thành sổ chung. Việc này không chấm điểm, và kết quả là một tư liệu mà lớp sau có thể tiếp tục bổ sung.
Câu hỏi thường gặp
Một sào là bao nhiêu mét vuông?
Tuỳ vùng. Ở Bắc Bộ, một sào thường được hiểu khoảng 360 m²; ở nhiều nơi Trung Bộ khoảng 500 m². Nam Bộ ít dùng sào mà dùng công, khoảng 1.000 m² hoặc khoảng 1.300 m² tuỳ cách đo. Khi làm giấy tờ, diện tích luôn tính theo mét vuông trên hồ sơ địa chính.
"Tháng ba ngày tám" nghĩa là gì?
Là thành ngữ miền Bắc chỉ thời giáp hạt vào khoảng tháng ba âm lịch, khi thóc vụ trước đã cạn mà lúa chiêm chưa gặt; "ngày tám" thường được hiểu là khoảng tháng tám âm lịch, giáp hạt trước vụ mùa. Đây là những lúc thiếu ăn nhất của nhà nông xưa.
Cày ải khác cày dầm thế nào?
Cày ải là cày lật đất khô sau gặt rồi phơi nắng cho đất tơi xốp, làm ở ruộng chân cao thoát nước được. Cày dầm là cày khi ruộng còn ngập nước, thường ở ruộng trũng. Hai cách cho biết điều kiện ruộng và lịch mùa vụ khác nhau.
Nong, nia, nống khác nhau ra sao?
Đều là đồ đan tre hình tròn, khác nhau chủ yếu ở kích thước và công dụng. Nong to, để phơi; nống ở một số vùng là loại còn to hơn nong; nia nhỏ hơn, dùng để sảy thóc, hong đồ. Tên gọi và kích thước có thể khác giữa các làng, nên ghi theo cách gọi ở làng mình.
Vì sao nên giữ từ ngữ nhà nông khi không còn dùng nữa?
Vì từ ngữ mang theo hiểu biết: một từ cho biết một kỹ thuật, một loại ruộng, một cách tổ chức lao động. Mất từ là mất chìa khoá để đọc ca dao, tục ngữ, văn học, gia phả, giấy tờ cũ. Giữ từ còn giúp con cháu hiểu đời sống của ông bà.
Đổi công và vần công có giống nhau không?
Về cơ bản là cùng một tục: các nhà làm giúp nhau theo lượt, trả bằng công thay vì tiền, để kịp thời vụ cấy, gặt. Tên gọi khác nhau tuỳ vùng. Ở nhiều nơi tục này vẫn còn trong việc làm nhà, đám cưới, dù việc đồng đã dùng máy nhiều hơn.