Ngày xưa, nhà nông tách hạt lúa khỏi bông bằng bốn cách chính: kẹp bó lúa bằng néo rồi quật lên phiến đá (phổ biến ở miền Bắc), quật bó lúa vào thành bồ đập (phổ biến ở Nam Bộ), cho trâu bò kéo trục lăn đá hoặc đi vòng trên lúa trải sân, và từ nửa sau thế kỷ 20 là máy tuốt đạp chân. Thóc sau đó được làm sạch bằng gió: quạt hòm quay tay, hoặc sảy bằng nia và quạt nan.
Đây là khâu biến bó lúa thành hạt thóc cất được vào bồ, và cũng là khâu đông người, ồn ào, nhiều bụi rơm nhất của mùa gặt. Bài viết kể từng cách, dụng cụ đi kèm, lý do vùng này chuộng cách này, vùng kia chuộng cách khác, và những gì còn lại hôm nay.
Từ ruộng về sân: chặng đường của bó lúa
Lúa gặt xong được bó thành lượm, gánh về bằng đòn xóc hoặc quang gánh, chở bằng thuyền ở vùng trũng, bằng xe bò ở những nơi có đường. Ở nhiều vùng, lúa được tách hạt ngay ngoài đồng để đỡ phải gánh cả rơm về; ở vùng khác, cả bó lúa được đưa về sân nhà hoặc sân chung của xóm.
Sân phơi là trung tâm của mùa gặt. Ở đồng bằng Bắc Bộ, sân nhà thường lát gạch hoặc nện đất phẳng, được quét sạch, có nhà còn láng một lớp bùn trộn phân trâu cho mặt sân mịn, khô, hạt thóc không lẫn sạn. Nhà không có sân rộng thì đập lúa ở sân đình, sân kho của làng, hoặc ngay trên bờ ruộng.
Thời gian từ gặt đến tách hạt cần càng ngắn càng tốt. Lúa để đống lâu, gặp mưa, sẽ ủ nóng và nảy mầm ngay trên bông, mất cả mùa. Vì vậy mùa gặt luôn là cuộc chạy đua với thời tiết, và mọi dụng cụ tách hạt đều được chuẩn bị sẵn trước khi lúa chín.
Ở những vùng có mưa bất chợt trong mùa gặt, người ta còn phơi bó lúa trên bờ, gác lên giàn, chất thành đụn có mái che tạm. Câu nói "trông trời, trông đất, trông mây" của nhà nông gắn chặt nhất với chính những ngày này.
Cái néo và phiến đá: cách đập lúa của miền Bắc
Cấu tạo của néo. Néo gồm hai đoạn tre hoặc gỗ ngắn, mỗi đoạn dài cỡ cánh tay, nối với nhau ở một đầu bằng sợi dây thừng ngắn. Người đập vòng sợi dây quanh gốc bó lúa, xoắn hai đoạn tre để siết chặt, rồi cầm hai đoạn tre như cầm cán.
Cách đập. Người đập vung bó lúa qua vai và quật mạnh phần bông xuống một phiến đá, một cối đá úp ngược, một chiếc thang tre đặt nghiêng hoặc một tấm ván. Hạt thóc rụng xuống sân, bó rơm vẫn nằm gọn trong néo. Vài lần quật là hết hạt, người đập nới néo, quăng rơm sang một bên và kẹp bó khác.
Vì sao néo hợp với miền Bắc. Thửa ruộng nhỏ, lúa gánh về sân nhà, mỗi nhà tự đập phần của mình. Néo nhẹ, rẻ, tự làm được, không cần trâu kéo, không cần dụng cụ lớn. Rơm sau khi đập vẫn giữ nguyên bó, tiện cho việc phơi khô làm chất đốt, lợp mái, cho trâu ăn mùa đông.
Nhịp đập và tiếng đập. Mùa gặt ở các làng Bắc Bộ ngày trước vang tiếng lúa quật đều đều từ sân nhà này sang sân nhà kia. Nhiều người lớn tuổi kể đó là âm thanh báo mùa no, và trẻ con thì quanh quẩn nhặt những bông lúa sót.
Bồ đập lúa: cách đập của Nam Bộ ruộng rộng
Ở Nam Bộ, nơi thửa ruộng rộng và lúa nhiều, cách quen thuộc là dùng bồ đập lúa, có nơi gọi là thùng đập lúa. Đó là một chiếc thùng gỗ lớn, đáy rộng, có phên tre hoặc tấm cót dựng che ba phía để hạt thóc không văng ra ngoài. Bồ đập được đặt ngay trên ruộng đã gặt, có thể kéo trượt trên mặt ruộng từ chỗ này sang chỗ khác.
Người đập đứng ở phía mở, cầm cả ôm lúa bằng hai tay và quật mạnh phần bông vào thành trong của thùng. Hạt rơi xuống đáy, người ta xúc ra bao, ra giạ. Một chiếc bồ đập có thể có hai, ba người đứng đập cùng lúc, nhịp quật xen kẽ nhau.
Lợi thế của bồ đập là tách hạt ngay trên đồng, không phải gánh cả rơm về nhà qua quãng đường xa. Rơm được bỏ lại ruộng để phơi, đốt hoặc dùng cho trâu bò. Cách làm này hợp với cánh đồng lớn, nhà cách ruộng xa và lực lượng gặt thuê đông người vào mùa.
Hình ảnh những nhóm người đập lúa bên bồ gỗ giữa cánh đồng vàng, tiếng quật lúa và tiếng hò, là một phần ký ức của nhiều thế hệ nông dân đồng bằng sông Cửu Long, trước khi máy gặt đập liên hợp phổ biến vào những năm gần đây.
Trục lăn đá và trâu đạp lúa: dùng sức vật nuôi
Ở nhiều vùng Nam Trung Bộ và một số nơi ở Nam Bộ, người ta trải lúa thành lớp dày trên sân rộng rồi cho trâu hoặc bò kéo một chiếc trục lăn bằng đá đi vòng tròn. Trục lăn thường là một khối đá đẽo hình trụ, có khi có khía dọc thân, nối với trâu bằng khung gỗ. Sức nặng của đá và móng trâu làm hạt thóc rời khỏi bông.
Có nơi không dùng trục mà cho vài con trâu đi vòng quanh trên lớp lúa, gọi nôm là đạp lúa. Người đứng giữa giữ dây, xoay theo vòng đi của trâu, chốc chốc dùng cây chĩa đảo lớp lúa cho đều. Đây là cách làm có ở nhiều nền nông nghiệp trên thế giới và từng phổ biến ở một số vùng của Việt Nam.
Lợi ích là tách được khối lượng lớn mà ít tốn sức người. Bất lợi là cần sân rộng, phẳng, khô; rơm bị dập nát nên khó bó lại để dùng; và thóc lẫn nhiều rơm vụn hơn, phải làm sạch kỹ hơn. Chính vì vậy, cách này hợp với những vùng ít mưa trong mùa gặt và có nhiều trâu bò.
Những chiếc trục lăn đá cũ ngày nay vẫn còn nằm ở góc sân, đầu ngõ nhiều làng, có khi được dựng lên làm ghế ngồi, làm cột chắn hay đưa vào trưng bày như một chứng tích của thời chưa có máy.
Máy tuốt lúa đạp chân: chiếc máy đầu tiên của nhiều làng
Từ khoảng nửa sau thế kỷ 20, máy tuốt lúa đạp chân dần phổ biến ở nhiều vùng nông thôn. Chiếc máy gồm một trống quay bằng gỗ hoặc sắt, trên mặt trống có nhiều răng thép uốn hình chữ V, một bàn đạp nối với trục trống qua tay biên, và một khung che phía trước để hạt không văng.
Người tuốt đứng trước máy, một chân đạp cho trống quay nhanh, hai tay cầm bó lúa áp phần bông vào mặt trống. Răng thép tuốt hạt ra khỏi bông, người tuốt xoay bó lúa cho đều rồi đổi bó khác. Thường có hai người đứng một máy, một người đạp chính, người kia đưa lúa, thay nhau khi mỏi. Máy khá nặng nên được khiêng ra đồng hoặc đặt cố định ở sân, và nhiều nơi máy thuộc về nhóm vài hộ, góp tiền mua chung rồi chia lượt dùng trong mùa gặt. Người tuốt phải giữ tay xa mặt trống, vì răng thép quay nhanh có thể gây thương tích nếu sơ ý.
So với néo và bồ đập, máy tuốt đạp chân nhanh hơn, ít mệt hơn cho cánh tay và vai, rơm vẫn giữ được bó để phơi. Tiếng máy rè rè cũng thay dần tiếng quật lúa trên sân. Về sau, máy tuốt chạy bằng động cơ và cuối cùng là máy gặt đập liên hợp đã thay cả máy đạp chân ở phần lớn đồng bằng.
Với nhiều người sinh trong những thập niên cuối thế kỷ 20, máy tuốt đạp chân là chiếc máy nông nghiệp đầu tiên họ được thấy, và cũng là thứ nằm chơ vơ ở góc nhà kho khi máy mới đến.
Rơm sau mùa đập: thứ không bao giờ bị bỏ đi
Với nhà nông xưa, tách xong hạt chưa phải là hết việc với cây lúa. Phần rơm còn lại là một nguồn vật liệu quý, và cách tách hạt của mỗi vùng ảnh hưởng trực tiếp đến cách dùng rơm. Đập bằng néo hay tuốt bằng máy đạp chân giữ được bó rơm nguyên, còn trâu đạp lúa làm rơm dập nát.
Ở đồng bằng Bắc Bộ, rơm được phơi khô rồi đánh thành đụn rơm, còn gọi là cây rơm, quấn quanh một cây cọc tre cắm giữa sân hay góc vườn. Đụn rơm là kho chất đốt cả năm cho bếp, là thức ăn mùa đông cho trâu bò khi cỏ ngoài đồng khan hiếm. Rơm cũng được dùng lợp mái bếp, mái chuồng, lót ổ gà, ủ ấm gốc cây, bện thành thừng.
Ở Nam Bộ, rơm bỏ lại trên ruộng một phần được dùng làm nấm rơm, một nghề phụ quen thuộc sau mùa gặt; phần khác được đốt hoặc vùi lại làm phân. Ở nhiều vùng, tro rơm từ bếp lại được rải ra vườn, khép kín một vòng quay giữa ruộng, bếp và vườn.
Đụn rơm còn đi vào ký ức tuổi thơ của nhiều người: chỗ trốn tìm của trẻ con, chỗ ngồi hóng nắng mùa đông, mùi rơm mới thơm ngai ngái sau mùa gặt. Ngày nay, máy gặt đập liên hợp cắt rơm vụn và rải lại trên ruộng, đụn rơm thưa dần ở nhiều làng, chỉ còn ở những nơi vẫn nuôi trâu bò hoặc làm nấm.
Làm sạch thóc: quạt hòm, nia sảy và quạt nan
Thóc sau khi tách hạt còn lẫn rơm vụn, hạt lép, bụi đất. Người xưa làm sạch bằng gió theo ba cách chính:
| Cách làm | Dụng cụ | Cách vận hành | Khi nào dùng |
|---|---|---|---|
| Quạt hòm | Hộp gỗ có phễu trên, cánh quạt quay tay bên trong, hai cửa ra | Đổ thóc vào phễu, quay tay; thóc chắc rơi xuống máng, hạt lép và bụi bị gió thổi ra cửa khác | Lúc lặng gió, khối lượng lớn |
| Sảy bằng nia | Nia tròn đan tre | Hất thóc lên theo nhịp tròn, hạt nặng rơi lại, trấu và rơm vụn bay ra mép nia | Khối lượng nhỏ, làm sạch lần cuối |
| Quạt bằng quạt nan | Quạt nan lớn, có khi hai người | Một người đổ thóc từ trên cao xuống, người kia quạt mạnh cho bụi bay ra | Có thêm gió tự nhiên thì càng nhanh |
Quạt hòm là một trong những nông cụ "cơ khí" sớm nhất của nhà nông, cùng nguyên lý với các máy làm sạch hạt hiện nay: dùng luồng gió để tách hạt nặng khỏi vật nhẹ. Nhà nào có quạt hòm thường cho hàng xóm mượn trong mùa gặt.
Câu hỏi thường gặp
Cái néo đập lúa là gì?
Néo là dụng cụ gồm hai đoạn tre hoặc gỗ ngắn nối nhau bằng sợi dây. Người đập vòng dây quanh gốc bó lúa, xoắn chặt rồi cầm hai đoạn tre để quật bông lúa lên phiến đá hay cối úp, cho hạt rụng ra. Néo phổ biến ở đồng bằng Bắc Bộ, nơi mỗi nhà tự đập lúa trên sân.
Vì sao miền Nam dùng bồ đập còn miền Bắc dùng néo?
Ruộng Nam Bộ rộng, nhà thường xa ruộng, nên tách hạt ngay trên đồng bằng bồ đập để khỏi gánh rơm về. Ruộng miền Bắc nhỏ, gần nhà, lúa gánh về sân, đập bằng néo vừa gọn vừa giữ được bó rơm. Cả hai cách đều hợp với điều kiện của vùng mình.
Máy tuốt lúa đạp chân xuất hiện từ bao giờ?
Máy tuốt lúa đạp chân phổ biến dần ở nông thôn Việt Nam từ khoảng nửa sau thế kỷ 20, sớm muộn khác nhau giữa các vùng. Về sau nó bị thay bởi máy tuốt có động cơ và máy gặt đập liên hợp. Nhiều chiếc vẫn còn nằm trong kho hoặc được đưa vào trưng bày.
Quạt hòm hoạt động theo nguyên lý nào?
Quạt hòm dùng gió từ cánh quạt quay tay để tách hạt theo khối lượng. Thóc đổ từ phễu rơi qua luồng gió; hạt chắc nặng rơi xuống máng gần, còn hạt lép, trấu, bụi nhẹ bị thổi ra cửa xa hơn. Đây cũng là nguyên lý của nhiều máy làm sạch hạt hiện nay.
Vì sao gặt xong phải tách hạt và phơi ngay?
Lúa ướt để đống sẽ ủ nóng, nấm mốc phát triển và hạt có thể nảy mầm ngay trên bông, làm hỏng cả mẻ. Vì thế người xưa luôn cố tách hạt và phơi khô thật nhanh, nhất là khi trời có dấu hiệu mưa. Mùa gặt vì vậy thường là cuộc chạy đua với thời tiết.
Trâu đạp lúa là gì, còn nơi nào làm không?
Trâu đạp lúa là cách trải lúa thành lớp dày trên sân rồi cho trâu đi vòng quanh, móng trâu làm hạt rời khỏi bông; có nơi cho trâu kéo thêm trục lăn đá. Cách này từng có ở một số vùng Nam Trung Bộ và Nam Bộ, nay gần như đã được máy thay thế.