PhuNong.comPhú Nông
Nông cụ xưa

Cái cày, cái bừa ngày xưa: tên từng bộ phận và cách cày ruộng với trâu

Cái cày truyền thống gồm chuôi, bắp, náng, theo, lưỡi, diệp và ách; cái bừa, cái trục làm gì sau cày. Cách người xưa cày một thửa ruộng với trâu, khác biệt Bắc Nam.

Farmer seen from behind guiding a wooden plough pulled by a grey water buffalo through a wet rice field, morning mist, wide shot

Cái cày truyền thống của người Việt gồm chuôi cày để người cầm, bắp cày bằng gỗ cong nối về phía trâu, náng cày để chỉnh độ sâu, theo cày trượt dưới đất, lưỡi cày bằng sắt xẻ đất và diệp cày lật đất sang một bên; trâu kéo qua chiếc ách đặt trên cổ. Sau cày là bừa và trục để đánh đất thành bùn nhuyễn, mặt ruộng phẳng, sẵn sàng cấy.

Cày và bừa là hai nông cụ gắn với hình ảnh nhà nông Việt hơn bất cứ thứ gì khác, từ ca dao "Trên đồng cạn, dưới đồng sâu, chồng cày vợ cấy, con trâu đi bừa" đến tranh dân gian. Bài này giải thích cấu tạo, cách dùng, lý do của từng chi tiết và những khác biệt giữa các vùng.

Từ lưỡi cày đồng đến lưỡi cày sắt: chiếc cày có từ bao giờ

Giới khảo cổ học Việt Nam đã tìm thấy nhiều lưỡi cày bằng đồng ở các di chỉ thuộc văn hoá Đông Sơn, cách nay khoảng hơn hai nghìn năm, với hình dạng tam giác hoặc hình cánh bướm, có lỗ hoặc họng để tra vào thân gỗ. Đó là bằng chứng sớm cho thấy cư dân lúa nước vùng châu thổ sông Hồng, sông Mã đã cày đất chứ không chỉ cuốc.

Về sau, sắt thay đồng vì cứng hơn, rẻ hơn và dễ rèn lại khi mòn. Hình dạng cơ bản của lưỡi cày gần như giữ nguyên qua nhiều thế kỷ, chỉ thay đổi về kích cỡ và cách lắp. Thân cày vẫn bằng gỗ, thứ người làng tự chọn, tự đẽo.

Sử cũ còn ghi lễ Tịch điền: năm 987, vua Lê Đại Hành tự tay cày ruộng ở vùng Đọi Sơn (nay thuộc Ninh Bình, trước là Hà Nam) để khuyến khích nghề nông. Các triều sau, nhất là thời Lý và thời Nguyễn, tiếp tục nghi lễ này. Việc nhà vua cầm cày mở đầu mùa vụ cho thấy chiếc cày đã là biểu tượng của nghề nông, chứ không chỉ là một dụng cụ.

Điều đáng chú ý là chiếc cày Việt không phải bản sao của cày phương Bắc hay cày Ấn Độ. Nó nhỏ, nhẹ, một người một trâu điều khiển được, hợp với thửa ruộng nhỏ chia bằng bờ và mặt đất bùn ngập nước. Những chiếc cày lớn kiểu vùng thảo nguyên sẽ sa lầy ngay ở ruộng lúa đồng bằng Bắc Bộ.

Các bộ phận của cái cày và việc của từng bộ phận

Tên bộ phận dưới đây là cách gọi phổ biến ở đồng bằng Bắc Bộ; nhiều nơi có tên riêng, nhưng chức năng thì giống nhau.

Bộ phậnLàm bằngViệc của nó
Chuôi càyGỗTay cầm của người cày, dùng để ấn, nâng và lái hướng đường cày.
Bắp càyGỗ cong nguyên khúcThanh dài vươn về phía trâu, nối thân cày với dây kéo và ách.
Náng càyGỗThanh chống nối bắp cày với phần dưới; xê dịch náng là đổi góc cày, cày nông hay sâu.
Theo càyGỗ cứngPhần đế trượt sát đáy luống, đỡ lưỡi và giữ cày đi thẳng.
Lưỡi càySắt hoặc gangMũi tam giác xẻ đất, phần mòn nhanh nhất, phải mang đi rèn lại hoặc thay.
Diệp càySắt uốn congTấm cong phía sau lưỡi, đẩy và lật thỏi đất sang một bên.
ÁchGỗ congĐặt lên cổ trâu, nối với bắp cày qua dây thừng hoặc dây mây.

Bộ phận quan trọng nhất về kỹ thuật là náng. Người cày giỏi biết chỉnh náng theo từng thửa: ruộng đất thịt nặng thì cày nông hơn để trâu đỡ mệt, ruộng nhiều rạ cần vùi kỹ thì cày sâu hơn. Đó là một dạng điều chỉnh mà máy cày ngày nay làm bằng thuỷ lực.

Chọn gỗ, đóng cày và đẽo ách: chiếc cày ra đời từ tay thợ làng

Ngày trước, phần lưỡi và diệp được mua từ lò rèn, còn phần gỗ phần lớn do thợ mộc trong làng hoặc chính người cày giỏi việc tay chân làm ra. Cái khó nhất là bắp cày: nó phải cong tự nhiên theo đúng độ cong cần thiết, nên người ta đi tìm những cây có khúc thân hay khúc rễ cong sẵn thay vì uốn. Một khúc gỗ cong ưng ý được để dành nhiều tháng, phơi khô trong bóng râm cho khỏi nứt rồi mới đẽo.

Theo cày, phần trượt dưới đáy luống, cần gỗ cứng, thớ dẻo, ngâm nước lâu không mục. Chuôi cày cần gỗ nhẹ hơn và được đẽo vừa tay người dùng; chuôi cày cũ thường bóng lên ở đúng chỗ bàn tay nắm nhiều năm. Náng cày được làm để tháo lắp, chỉnh được nhiều nấc, vì đó là chỗ người cày điều chỉnh liên tục.

Chiếc ách đặt lên cổ trâu được đẽo cẩn thận nhất. Mặt trong ách phải nhẵn, cong ôm theo cổ, không có cạnh sắc, vì một vết trầy ở cổ trâu sẽ bị cọ xát suốt mùa cày và có thể làm trâu bỏ ăn. Dây nối ách với bắp cày được bện từ đay, mây hoặc vỏ cây tuỳ vùng, thay mới khi sờn.

Một chiếc cày làm cẩn thận có thể dùng nhiều năm, thay lưỡi, thay theo, thay dây mà giữ nguyên bắp. Không ít gia đình giữ chiếc bắp cày của đời ông sang đời cháu, như một món đồ vừa dùng được vừa mang kỷ niệm.

Một buổi cày ruộng ngày xưa diễn ra thế nào

Ví dụ giả định dưới đây dựa trên lời kể phổ biến của người cao tuổi vùng đồng bằng Bắc Bộ về một buổi cày ruộng vụ chiêm.

  1. Trời chưa sáng, người cày dắt trâu ra đồng, vác cày trên vai, ách buộc theo. Trâu được cho ăn cỏ hoặc rơm từ tối hôm trước.
  2. Đặt ách lên cổ trâu, buộc dây vào bắp cày, kiểm lại chốt náng. Người cày đứng sau, một tay cầm chuôi, tay kia cầm roi tre và sợi thừng xỏ mũi trâu.
  3. Cày đường đầu tiên dọc theo bờ, rồi đi vòng hoặc đi đi lại lại tuỳ thói quen từng vùng. Mỗi đường cày lật một thỏi đất, đè lên thỏi trước.
  4. Điều khiển trâu bằng tiếng hô: mỗi vùng có những tiếng riêng để bảo trâu đi, dừng, rẽ trái, rẽ phải. Trâu quen chủ thì chỉ nghe giọng là hiểu.
  5. Khi nắng lên, khoảng giữa buổi sáng, tháo ách cho trâu nghỉ, đắm mình dưới ao. Trâu làm việc quá nắng dễ kiệt sức, nên nhà nông cày sớm và cày chiều mát.
  6. Cày xong, ruộng để ải hoặc ngâm nước vài hôm cho đất mềm, gốc rạ mục, rồi mới bừa.

Một người một trâu cày được bao nhiêu trong một buổi phụ thuộc vào đất, sức trâu và tay nghề, nên các con số truyền miệng khác nhau khá nhiều giữa các vùng. Điểm chung là cày bằng trâu chậm, nên mùa làm đất kéo dài nhiều ngày và các nhà phải đổi công cho nhau.

Cái bừa và cái trục: biến đất cày thành bùn

Bừa đánh vỡ thỏi đất. Cái bừa có một thanh ngang gắn hàng răng bằng gỗ cứng, tre già hoặc sắt, phía trên có tay cầm. Trâu kéo bừa đi dọc, đi ngang nhiều lượt cho thỏi đất vỡ vụn và trộn đều với nước.

Bừa còn để vơ cỏ. Răng bừa kéo theo cỏ dại và gốc rạ chưa mục. Người bừa thỉnh thoảng nhấc bừa lên rũ cỏ thành đống ở góc ruộng. Ở nhiều nơi, đây là lúc trẻ con theo sau nhặt cua, bắt cá rô bị bừa làm bật ra.

Trục làm phẳng và nhuyễn bùn. Cái trục là một khúc gỗ hoặc khúc đá hình trụ có gờ, khía hoặc cánh, trâu kéo lăn trên mặt ruộng. Trục nghiền nốt những cục đất còn sót, ép gốc rạ xuống và là phẳng mặt ruộng để nước nằm đều, mạ cấy không bị chỗ sâu chỗ cạn.

Mặt ruộng phẳng là chuyện sống còn. Ruộng lồi lõm thì chỗ cao khô, chỗ trũng ngập, lúa lớn không đều. Vì thế người xưa bừa nhiều lượt, có khi bừa đi bừa lại tới ba bốn lần trước khi cấy, nhất là với ruộng mới khai hay ruộng nhiều rạ.

Khác biệt giữa các vùng: một trâu, hai trâu, bò hay ngựa

Ở đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, phổ biến nhất là cày một trâu với ách đơn. Thửa ruộng nhỏ, bờ dày, một con trâu quay đầu dễ dàng. Trâu được chuộng hơn bò vì chịu được bùn ngập và làm việc khoẻ ở ruộng nước.

Ở Nam Bộ, nơi ruộng rộng và đất phù sa mềm, nhiều nơi cày bằng hai trâu hoặc hai bò với ách đôi, thân cày và lưỡi cày cũng có hình dạng riêng. Ở miền Trung, bò kéo cày khá phổ biến trên ruộng cát pha, đất khô hơn. Người Nam Bộ còn có cái phảng để phát cỏ trên ruộng sâu trước khi cày, một nông cụ gắn chặt với lịch sử khai phá vùng đất này.

Trên vùng cao phía Bắc, người Mông, người Dao, người Tày cày ruộng bậc thang bằng những chiếc cày nhỏ do bò hoặc ngựa kéo. Mặt ruộng hẹp, có chỗ chỉ rộng vài sải tay, nên cày phải gọn, quay đầu nhanh. Nhiều gia đình vẫn dùng cách này đến hôm nay vì máy cày lớn không lên được những thửa ruộng ấy.

Những khác biệt này nhắc rằng không có một chiếc "cày Việt" chuẩn duy nhất. Có một họ cày, mỗi nhánh thích nghi với đất, nước và con vật kéo của vùng mình.

Cái cày trong ca dao, tục ngữ và đời sống làng

Ca dao quen thuộc "Trên đồng cạn, dưới đồng sâu / Chồng cày vợ cấy, con trâu đi bừa" vẽ ra một sự phân công rõ: cày bừa là việc của đàn ông và trâu, cấy là việc của phụ nữ. Sự phân công ấy không cứng nhắc, nhiều phụ nữ vẫn cày khi nhà thiếu người, nhưng nó phản ánh sức nặng của việc cày.

Câu "Ruộng sâu trâu nái" nói về ước mơ của nhà nông: có ruộng tốt và có trâu cái để vừa kéo cày vừa sinh nghé. Câu "Tậu trâu, lấy vợ, làm nhà" xếp việc mua trâu vào hàng ba việc lớn của đời người, và tậu trâu bao giờ cũng kéo theo sắm cày, sắm ách.

Trong làng, chiếc cày được giữ gìn cẩn thận. Hết vụ, lưỡi cày được tháo ra, lau khô cất trên gác cho khỏi gỉ; thân cày treo dưới mái hiên. Lưỡi mòn thì mang tới lò rèn đắp thêm sắt hoặc rèn lại, chứ ít khi bỏ cả lưỡi. Đầu vụ, lò rèn trong vùng thường đông khách nhất năm, vì nhà nào cũng mang lưỡi cày, lưỡi cuốc đến sửa cùng lúc trước ngày ra đồng.

Ngày nay máy cày đã thay trâu ở phần lớn đồng bằng, nhưng tiếng hô điều khiển trâu, cách chỉnh náng hay mẹo cày ruộng nhiều rạ vẫn còn trong trí nhớ thế hệ ông bà. Đó là phần di sản phi vật thể đi kèm chiếc cày, dễ mất hơn chính chiếc cày.

Câu hỏi thường gặp

Diệp cày và lưỡi cày khác nhau thế nào?

Lưỡi cày là mũi sắt nhọn hình tam giác ở phía trước, có nhiệm vụ xẻ đất. Diệp cày là tấm sắt uốn cong gắn phía sau lưỡi, có nhiệm vụ đẩy thỏi đất vừa xẻ lật sang một bên. Không có diệp thì đất chỉ bị rạch thành rãnh chứ không được lật úp.

Vì sao người xưa cày bằng trâu mà ít dùng bò ở ruộng nước?

Trâu chịu bùn và nước tốt, móng to bám đất lầy, thích ngâm mình nên hợp với ruộng ngập. Bò khoẻ trên đất khô hơn, nên được dùng nhiều ở miền Trung, ruộng cát pha và vùng đồi. Nhiều nơi Nam Bộ dùng cả trâu lẫn bò tuỳ mặt ruộng.

Cày ải là gì và vì sao phải cày ải?

Cày ải là cày lật đất rồi để phơi nắng một thời gian trước khi cho nước vào, thường làm sau vụ gặt ở miền Bắc. Nắng làm đất tơi, gốc rạ khô và mục nhanh hơn. Kinh nghiệm dân gian coi đất cày ải là đất tốt, nhiều nhà nông học ngày nay cũng ghi nhận lợi ích làm thoáng đất.

Cái trục khác cái bừa ở điểm nào?

Bừa có răng, kéo qua để đánh vỡ thỏi đất và vơ cỏ. Trục là khối hình trụ có gờ hoặc khía, lăn trên mặt ruộng để nghiền bùn nhuyễn và làm phẳng. Thường người ta bừa trước, trục sau, nhưng nhiều vùng chỉ dùng bừa nếu đất đã đủ mềm.

Người cày điều khiển trâu bằng cách nào?

Chủ yếu bằng tiếng hô, sợi thừng xỏ mũi và roi tre. Mỗi vùng có những tiếng riêng để bảo trâu đi, dừng, rẽ trái, rẽ phải; trâu quen chủ chỉ cần nghe giọng. Roi chủ yếu để ra hiệu, người cày giỏi ít khi phải đánh mạnh vì trâu là tài sản lớn của nhà.

Lưỡi cày đồng thời Đông Sơn trông như thế nào?

Các lưỡi cày đồng tìm được ở di chỉ văn hoá Đông Sơn thường có hình tam giác hoặc hình cánh bướm, có họng hoặc lỗ để lắp vào thân gỗ. Chúng là một trong những bằng chứng cho thấy cư dân châu thổ đã cày ruộng từ khoảng hơn hai nghìn năm trước.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.