Hệ thống đê sông Hồng là kết quả của gần một nghìn năm đắp nối của người dân đồng bằng Bắc Bộ; sử cũ ghi mốc sớm là năm 1108, thời Lý Nhân Tông, khi triều đình cho đắp đê Cơ Xá ở kinh thành Thăng Long. Đến năm 1248, nhà Trần cho đắp đê dọc sông Cái từ đầu nguồn đến bờ biển, gọi là đê Đĩnh Nhĩ (đê quai vạc), và đặt chức Hà đê chánh sứ, phó sứ để trông coi đê.
Nhờ đê, đồng bằng sông Hồng giữ được mùa màng trước những trận lũ hằng năm, làng mạc mọc dày đặc trên vùng đất trước kia ngập theo mùa. Nhưng đê cũng thay đổi cả cách đất được bồi, cách làng được dựng và cách người dân sống với con sông. Bài này kể lịch sử ấy theo góc nghề nông.
Vì sao đồng bằng Bắc Bộ phải đắp đê
Sông Hồng mang lượng phù sa lớn và có mùa lũ dữ, thường từ khoảng tháng 6 đến tháng 10. Trước khi có đê, mỗi mùa lũ nước tràn khắp đồng bằng, bồi lên một lớp đất mới. Đó là cách đồng bằng được tạo nên qua hàng nghìn năm, nhưng cũng có nghĩa là người ở đây chỉ trồng cấy được ở những gò cao, hoặc trong những tháng nước rút.
Khi dân cư đông lên và lúa nước trở thành nguồn sống chính, người ta cần giữ lúa qua mùa lũ. Đắp bờ bao quanh làng, quanh ruộng là cách đầu tiên. Dần dần các bờ bao nối lại, cao lên, dài ra thành đê. Các nhà sử học cho rằng việc đắp đê có thể bắt đầu từ trước thời Lý ở quy mô nhỏ; chỉ từ thời Lý – Trần, đê mới được sử sách ghi là việc của nhà nước.
Truyền thuyết Sơn Tinh – Thuỷ Tinh, kể cảnh Thuỷ Tinh dâng nước đánh Sơn Tinh hằng năm và Sơn Tinh bốc đồi dời núi chặn nước, thường được các nhà nghiên cứu văn hoá đọc như ký ức của người Việt cổ về những mùa lũ và công cuộc chống lũ. Câu chuyện ấy trẻ em Việt Nam nào cũng thuộc, và nó nói đúng một điều: ở đồng bằng sông Hồng, sống được là nhờ biết giữ nước ở bên ngoài.
Cần nói thêm rằng đê sông Hồng không chỉ là một con đê. Đó là cả một mạng lưới gồm đê các sông lớn như sông Hồng, sông Đuống, sông Luộc, sông Đáy, sông Thái Bình, nối với hàng trăm cống qua đê để lấy nước vào đồng mùa khô và tiêu nước ra sông mùa mưa. Cái cống nhỏ ở chân đê làng nào cũng có là chỗ nối giữa ruộng và sông, và việc đóng mở cống đúng lúc là một kinh nghiệm riêng của người trông cống.
Dòng thời gian đắp đê qua các triều đại
Các mốc dưới đây là những mốc sử cũ ghi lại rõ; nhiều việc đắp, tu bổ nhỏ hơn diễn ra hằng năm mà không được chép tên.
- Năm 1108, thời Lý Nhân Tông: đắp đê Cơ Xá để bảo vệ kinh thành Thăng Long, đoạn đê được sử nhắc tên sớm nhất.
- Năm 1248, thời Trần Thái Tông: đắp đê Đĩnh Nhĩ dọc hai bờ sông Cái, từ đầu nguồn ra tới biển; đặt chức Hà đê chánh sứ, phó sứ trông coi đê. Theo sử cũ, đê đắp lấn vào ruộng nhà ai thì nhà nước tính đền bù cho chủ ruộng.
- Các triều Lê: tiếp tục coi việc giữ đê là việc lớn; quan lại địa phương chịu trách nhiệm tu bổ đê trong địa hạt của mình, dân các làng được huy động đắp đê vào mùa khô.
- Triều Nguyễn: có cơ quan chuyên trông coi đê điều ở Bắc Kỳ; trong triều từng có những cuộc bàn cãi kéo dài về việc nên giữ hay bỏ đê ở một số đoạn hay vỡ, cho thấy bài toán đê không bao giờ đơn giản.
- Thế kỷ 20 đến nay: đê được nâng cao, mở rộng, kè đá nhiều đoạn xung yếu; trận lũ lớn năm 1971 làm vỡ đê ở nhiều nơi và trở thành mốc người dân đồng bằng còn nhắc. Sau này các hồ chứa lớn ở thượng nguồn góp phần cắt lũ cho hạ du.
Điểm đáng chú ý: suốt gần nghìn năm, việc đắp đê luôn dựa vào sức dân các làng ven sông. Đê sông Hồng vì vậy vừa là công trình nhà nước, vừa là công trình của từng làng, mỗi đoạn đê đều gắn với ký ức của những thế hệ đã gánh đất đắp lên.
Đắp đê bằng sức người: làng xưa làm thế nào
Trước khi có máy xúc, máy đầm, mỗi mét đê đều do sức người gánh lên. Mùa khô, khi nước sông xuống thấp và ruộng đã gặt, làng được giao đoạn đê nào thì huy động người đến đoạn ấy. Đất đắp đê thường lấy ở những hố đào cách chân đê một quãng, người ta gọi là thùng đấu; sau này những hố ấy thành ao, thành ruộng trũng dọc đê mà đến nay vẫn còn dấu vết ở nhiều nơi.
Đất được gánh bằng quang gánh, sọt tre, đổ thành từng lớp mỏng rồi nện chặt bằng vồ gỗ, bằng chân người, có khi cho trâu giẫm. Lớp này chặt mới đổ lớp sau. Người có kinh nghiệm biết chọn đất thịt dẻo, loại bỏ đất lẫn rễ cây, đất cát rời; vì một túi đất xốp trong thân đê có thể trở thành đường cho nước luồn qua mấy năm sau.
Mái đê phía sông được trồng cỏ để chống xói, nhiều đoạn có bãi tre, rặng sậy ngoài chân đê để chắn sóng mùa lũ. Phía đồng, chân đê thường có đường đi và những dải đất trống, không cho làm nhà sát chân đê. Theo lệ nhiều làng, mỗi suất đinh phải góp một số công đắp đê trong năm; ai không đi được thì góp thóc hoặc tiền để thuê người thay. Việc chia công ấy là một phần quen thuộc của đời sống làng xã Bắc Bộ.
Làng ngoài đê và làng trong đê
Đê chia đồng bằng thành hai thế giới: vùng bãi giữa đê và sông, và vùng đồng được đê che chở. Hai bên có nếp làm ăn khác hẳn nhau.
| Khía cạnh | Ngoài đê (vùng bãi) | Trong đê (vùng đồng) |
|---|---|---|
| Nước lũ | Ngập theo mùa, có năm ngập sâu | Được đê che, chỉ lo úng do mưa |
| Phù sa | Được bồi hằng năm, đất bãi rất màu mỡ | Không còn được bồi, đất dựa vào phân bón và luân canh |
| Cây trồng truyền thống | Ngô, dâu tằm, đậu, khoai, rau màu, cây ăn quả trên đất bãi | Lúa nước là chính, xen vụ đông ở chân ruộng cao |
| Nhà cửa | Nhà nền cao, nhiều làng có thuyền để đi lại mùa lũ | Nhà xây dày, làng có luỹ tre, ao, giếng |
| Nỗi lo lớn nhất | Lũ lên nhanh, sạt lở bờ bãi | Vỡ đê, và úng khi mưa lớn không tiêu kịp |
Nghề trồng dâu nuôi tằm ở nhiều làng ven sông Hồng gắn chặt với đất bãi ngoài đê: dâu chịu được ngập ngắn ngày và ăn phù sa mới. Ngược lại, nhiều làng trong đê nổi tiếng với nghề phụ lúc nông nhàn, vì ruộng chỉ một hai vụ lúa và thời gian chờ nước dài.
Hộ đê: việc của cả làng mỗi mùa lũ
Với người đồng bằng Bắc Bộ, "hộ đê" là một từ gợi cả một mùa: đêm mưa, tiếng trống hay tiếng kẻng báo, thanh niên trong làng vác cuốc thuổng, bao tải, cọc tre lên đê. Dọc đê có những điếm canh, nơi người được phân công thay nhau gác, đi tuần tìm chỗ nước rỉ, chỗ đê lún, những dấu hiệu sớm của sự cố.
Kinh nghiệm hộ đê được truyền từ đời này sang đời khác. Người già dặn con cháu để ý những chỗ nước sủi bọt ở chân đê phía đồng, vì đó có thể là mạch nước đang luồn qua thân đê, thứ nguy hiểm âm thầm hơn nước tràn mặt đê. Khi phát hiện, người ta phải xử lý ngay, đắp bao tải, làm giếng lọc, không để mạch rò lớn dần.
Ngày nay việc quản lý đê đã có lực lượng chuyên trách, có trạm đo mực nước, có quy định về các cấp báo động. Nhưng ở nhiều làng ven sông, người dân vẫn được tổ chức thành đội hộ đê mỗi mùa mưa bão, và vẫn nhớ những đêm thức trắng trên đê cùng cả làng.
Cái giá của việc nhốt sông giữa hai bờ đê
Đê cứu mùa màng, nhưng các nhà địa lý và thuỷ văn đã chỉ ra một hệ quả lâu dài: khi phù sa không còn tràn được vào đồng, nó lắng lại trong lòng sông và vùng bãi giữa hai bờ đê. Qua nhiều thế kỷ, lòng sông và bãi sông cao dần lên, trong khi đồng ruộng trong đê không được bồi thêm. Ở nhiều đoạn, mặt nước sông mùa lũ cao hơn mặt ruộng trong đê, đến mức người ta gọi là "sông treo".
Hệ quả là đê phải ngày càng cao, việc giữ đê ngày càng nặng, và nếu đê vỡ thì nước ập vào đồng rất mạnh. Ruộng trong đê, thiếu phù sa mới, phải dựa vào phân bón, bèo hoa dâu, phân chuồng mà người nông dân xưa đã dùng rất khéo để giữ màu cho đất.
Các nhà nghiên cứu đến nay vẫn bàn về cách cân bằng giữa an toàn chống lũ và việc cho đất được bồi, chẳng hạn những vùng phân lũ, chậm lũ. Câu hỏi này không có lời đáp dễ, nhưng biết nó giúp người đọc hiểu vì sao đê sông Hồng không chỉ là một bờ đất, mà là một lựa chọn lịch sử mà đồng bằng Bắc Bộ đã sống cùng hàng trăm năm.
Đê trong đời sống và ký ức làng quê
Với người lớn lên ở đồng bằng Bắc Bộ, mặt đê là con đường quen thuộc nhất. Đê là lối đi chợ, lối trâu ra bãi, chỗ trẻ con thả diều chiều hè, chỗ người làng ngồi hóng gió. Nhiều chợ quê họp ngay chân đê, nhiều bến đò nằm ở chỗ đê gần sông nhất.
Mái đê phủ cỏ cũng là bãi chăn trâu bò. Cỏ giữ đất mái đê, trâu bò ăn cỏ giữ cho cỏ không mọc quá rậm. Tuy vậy người làng xưa có lệ không cho trâu bò giẫm nát mái đê, không đào đất đê, không trồng cây to rễ sâu trên thân đê vì rễ mục có thể tạo đường rò.
Những câu như "lụt thì lút cả làng" gợi ý thức rằng khi nước lớn, không nhà nào đứng ngoài. Trong ký ức của nhiều người, đê sông Hồng gắn với tiếng còi tàu chạy dọc đê, với vạt ngô bãi xanh mướt ngoài sông, và với những mùa lũ cả làng cùng gánh đất.
Câu hỏi thường gặp
Đê sông Hồng có từ bao giờ?
Sử cũ ghi việc đắp đê Cơ Xá ở Thăng Long năm 1108 thời Lý Nhân Tông là mốc sớm được ghi tên. Năm 1248 nhà Trần cho đắp đê dọc sông Cái từ đầu nguồn ra biển. Trước đó có thể đã có các bờ bao nhỏ do làng xã tự đắp, nhưng không được ghi chép cụ thể.
Hà đê sứ là chức quan gì?
Hà đê chánh sứ và phó sứ là chức quan nhà Trần đặt ra năm 1248 để chuyên trông coi việc đắp và giữ đê. Theo sử cũ, mùa khô các quan này đốc thúc dân đắp đê, mùa lũ đi kiểm tra đê. Đây là một trong những dấu hiệu cho thấy đê điều sớm trở thành việc lớn của triều đình.
Vì sao gọi sông Hồng là "sông treo"?
Vì sau nhiều thế kỷ có đê, phù sa lắng trong lòng sông và vùng bãi giữa hai bờ đê làm chúng cao dần, trong khi ruộng trong đê không được bồi. Ở một số đoạn, mặt nước sông mùa lũ cao hơn mặt ruộng trong đê, nên người ta ví con sông như đang treo trên đồng.
Làng ngoài đê có bị ngập mỗi năm không?
Vùng bãi ngoài đê ngập theo mức lũ từng năm: năm lũ nhỏ chỉ ngập ruộng bãi thấp, năm lũ lớn có thể ngập cả nhà. Người làng ngoài đê xưa làm nhà nền cao, giữ thuyền, và trồng cây ngắn ngày để thu hoạch trước mùa lũ. Đổi lại, đất bãi được bồi phù sa nên rất màu mỡ.
Trận lũ năm 1971 có gì đặc biệt?
Trận lũ tháng 8 năm 1971 trên hệ thống sông Hồng là một trong những trận lũ lớn nhất được ghi nhận trong thế kỷ 20, làm vỡ đê ở nhiều nơi và gây ngập rộng. Sau trận lũ này, đê nhiều đoạn được nâng cấp. Người cao tuổi ở đồng bằng Bắc Bộ vẫn hay lấy nó làm mốc khi kể chuyện lũ.
Tại sao không trồng cây to trên đê?
Vì rễ cây to ăn sâu vào thân đê; khi cây chết, rễ mục để lại những đường rỗng mà nước lũ có thể len vào, gây rò rỉ và làm yếu đê. Gió bão quật đổ cây to cũng có thể làm bật đất mái đê. Vì vậy người xưa chỉ để cỏ phủ mái đê và giữ đê sạch cây lớn.