PhuNong.comPhú Nông
Giữ di sản nghề nông

Giữ di sản nghề nông: những gì đang mất dần và cách mỗi nhà, mỗi làng cùng giữ lại

Di sản nghề nông gồm ruộng, nông cụ, giống, tục ngữ, lễ hội, tay nghề và vốn từ. Cái nào đang mất nhanh, ai đang giữ, và một gia đình, một làng giữ được những gì.

An elderly farmer passing the worn wooden handle of an old plough to a young man in a village courtyard, side view, golden afternoon light

Giữ di sản nghề nông là giữ lại ba lớp cùng lúc: những thứ cầm nắm được (ruộng bậc thang, đê, mương, nông cụ, kho lúa), những thứ nằm trong đầu người (tay nghề, tục ngữ, cách đoán trời, câu hò, lễ hội) và những thứ sống được (giống lúa, giống vật nuôi bản địa). Lớp nào cũng có người đang giữ: bảo tàng và cơ quan văn hoá lo phần xếp hạng, trưng bày; cộng đồng lo lễ hội và nghề; còn gia đình giữ được nhiều hơn mình tưởng, chỉ bằng một cuốn sổ, một chiếc điện thoại và mấy món đồ cũ đừng đem bán sắt vụn.

Lý do phải nói chuyện này lúc này rất cụ thể: lớp người cày bằng trâu, cấy bằng tay, tát nước bằng gàu sòng ở đồng bằng Bắc Bộ phần lớn đã ngoài bảy mươi tuổi. Máy gặt đập liên hợp và máy cày tay đã thay cả một bộ nông cụ chỉ trong khoảng hai, ba chục năm. Khi người cuối cùng biết cầm cái hái mất đi, cái hái trong bảo tàng chỉ còn là một miếng sắt cong.

Di sản nghề nông gồm những gì

Người ta hay nghĩ di sản là thứ cổ, quý, nằm sau tủ kính. Với nghề nông, phần lớn di sản lại là những thứ rất thường, từng có ở mọi nhà: cái nia, cái nong, đôi quang gánh, chiếc cày chìa vôi, cái cối xay lúa đan tre trát đất. Chính vì thường nên chúng biến mất mà không ai để ý. Một ngôi đình được xếp hạng sẽ có người trông, còn cái cối xay lúa cuối cùng trong làng thì có thể bị đốt làm củi vào một chiều dọn nhà.

Lớp thứ hai là di sản không cầm được: cách xem ráng trời đoán mưa, cách nhìn màu lá lúa để biết ruộng đói phân hay no phân, nhịp chân guồng nước, động tác cắm mạ cho thẳng hàng, câu hò giã gạo, bài đồng dao trẻ chăn trâu, các lễ xuống đồng, cơm mới. Thứ này chỉ sống khi còn người làm và người nghe. Ghi âm, ghi hình giữ được cái vỏ; còn muốn giữ cái ruột thì phải có người học.

Lớp thứ ba thường bị quên: cảnh quan và hệ canh tác, như ruộng bậc thang vùng cao phía Bắc, hệ mương phai của người Thái, hệ đê sông Hồng, vườn – ao – chuồng của đồng bằng, lúa nổi vùng lũ An Giang. Cuối cùng là giống cây con bản địa, thứ di sản duy nhất phải trồng, phải nuôi hằng năm mới còn. Bỏ một vụ thì có thể mất cả giống.

Vì sao mất nhanh trong vài chục năm gần đây

Nghề nông Việt thay đổi chậm suốt nhiều thế kỷ rồi thay đổi rất nhanh từ cuối thế kỷ 20. Ở đồng bằng sông Hồng, con trâu lui dần khỏi ruộng khi máy cày tay và dịch vụ làm đất phổ biến; ở đồng bằng sông Cửu Long, máy gặt đập liên hợp vào đồng khiến những đoàn người đi cắt lúa thuê, những cái đập lúa bằng gỗ gần như vắng bóng. Thuốc trừ cỏ thay cái cào cỏ, máy bơm thay gàu, máy xay xát thay cối giã. Mỗi thay đổi đều giảm vất vả thật, và chẳng ai nên tiếc mồ hôi của ông bà. Điều đáng tiếc là đồ vật và kỹ năng đi theo mà không kịp được ghi lại.

Kiến trúc nhà cũng đổi. Nhà gỗ ba gian có gác để thóc, có hiên phơi, có chái để nông cụ được thay bằng nhà mái bằng; nông cụ không còn chỗ treo. Đồ sắt bán đồng nát, đồ tre mục, đồ gỗ thành củi. Người trẻ đi làm xa, ở lại làng phần nhiều là người già và trẻ nhỏ, nên chuỗi truyền nghề từ cha sang con đứt ở giữa.

Lớp phi vật thể mất theo kiểu khác: không ai cấm, chỉ là không còn dịp dùng. Câu hò cấy không còn ai hát khi ruộng sạ hoặc cấy máy. Tục ngữ đoán trời ít người cần khi điện thoại báo mưa theo giờ. Từ ngữ cũng rơi rụng: nhiều học sinh nông thôn hôm nay không phân biệt được nong với nia, gàu sòng với gàu dai, dù ông bà mình từng dùng mỗi ngày.

Từng loại di sản: dấu hiệu đang mất và việc giữ được

Bảng dưới gom các loại di sản nghề nông thường gặp ở làng Việt, kèm dấu hiệu cho thấy nó đang mất và một việc trong tầm tay của gia đình hoặc làng xóm.

Loại di sảnDấu hiệu đang mấtViệc trong tầm tay
Nông cụ gỗ, tre, sắtBán đồng nát, đốt làm củi khi dọn nhàGiữ lại mỗi loại một chiếc, ghi tên gọi địa phương và người từng dùng
Tay nghề (cày, cấy, đan, rèn)Người biết làm đều đã cao tuổi, không có người họcQuay video từng động tác, nhờ người làm vừa làm vừa giảng
Tục ngữ, câu hò, đồng daoChỉ người già nhớ, trẻ không hiểu nghĩaGhi âm giọng người kể, chép lại kèm lời giải nghĩa của chính họ
Lễ xuống đồng, cơm mới, hội làngRút gọn, bỏ phần gắn với mùa vụGhi lại trình tự, vai trò từng người, mùa nào làm
Cảnh quan: ruộng bậc thang, mương phai, đêBỏ hoang, đổ bê tông, đổi mục đíchChụp ảnh cùng một góc qua nhiều năm, ghi tên từng thửa, con mương
Giống lúa, giống gà, giống lợn địa phươngChỉ còn vài hộ già giữHỏi ai còn giữ, giới thiệu họ với nơi lưu giữ giống chuyên môn
Vốn từ: sào, thưng, đấu, nống, giầnTrẻ không biết nghĩaLàm sổ từ của làng, mỗi từ một dòng giải nghĩa và một ví dụ

Điểm chung của cột cuối: không cần kinh phí, chỉ cần người chịu hỏi và chịu ghi. Phần lớn các bộ sưu tập nghề nông có giá trị ở bảo tàng cũng bắt đầu từ những việc nhỏ như vậy của các nhà nghiên cứu đi điền dã.

Ai đang giữ, và mỗi bên giữ được phần nào

Bảo tàng và cơ quan văn hoá. Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam ở Hà Nội, mở cửa từ năm 1997, lưu giữ nhiều nông cụ, đồ đan, đồ dệt của các dân tộc; các bảo tàng tỉnh thường có góc nông nghiệp. Cơ quan văn hoá lập hồ sơ xếp hạng di tích, kiểm kê di sản phi vật thể. Phần này giữ được hiện vật và hồ sơ, nhưng không giữ được việc dùng hằng ngày.

Cộng đồng làng và người giữ nghề. Câu lạc bộ hò, hát của xã, nghệ nhân đan lát, thợ rèn còn đỏ lò, ban tổ chức hội làng. Đây là nơi di sản còn sống, nhưng cũng dễ đứt nhất khi một hai người chủ chốt qua đời.

Gia đình. Ông bà còn nhớ, con cháu còn hỏi được. Gia đình giữ những thứ nhà nước không với tới: chuyện riêng của một thửa ruộng, mẹo riêng của một người cấy giỏi, cái liềm có vết hàn do chính ông nội tự sửa.

Nhà nghiên cứu, giáo viên, người làm du lịch. Họ biến cái riêng lẻ thành tư liệu chung: một bài khảo cứu, một tiết học ngoại khoá, một chuyến tham quan có người làng dẫn. Làm đúng thì di sản có thêm người biết đến; làm ẩu thì di sản bị dựng lại cho đẹp mà sai.

Bắt đầu từ trong nhà: năm việc làm được ngay

Không cần chờ dự án hay kinh phí. Một gia đình có người lớn tuổi từng làm ruộng có thể làm năm việc sau trong vài buổi cuối tuần, theo thứ tự từ dễ đến khó.

  1. Đi một vòng quanh nhà, chái, gác bếp, chuồng cũ: liệt kê mọi đồ vật liên quan tới nghề nông còn sót lại, kể cả món đã hỏng. Đừng vứt gì trong lúc đang đếm.
  2. Hỏi người lớn tuổi tên gọi từng món theo cách gọi ở làng, ai dùng, dùng vào mùa nào, mua hay tự làm. Ghi vào sổ hoặc ghi âm bằng điện thoại.
  3. Chụp mỗi món một tấm rõ, đặt cạnh vật quen thuộc để thấy kích thước. Lưu ảnh theo tên món, kèm ngày chụp và tên người kể.
  4. Nhờ người lớn tuổi làm thử một động tác: cầm liềm, sảy thóc bằng nia, đan một nút lạt. Quay lại cả tay lẫn lời giảng, không cần đẹp.
  5. Chọn một nơi khô, thoáng để giữ những món còn nguyên; món nào nhà không giữ nổi thì hỏi trường học, nhà văn hoá thôn hay bảo tàng tỉnh có nhận không, trước khi bán.

Năm việc này cũng là nền cho các việc lớn hơn như góc trưng bày ở làng hay cuốn sổ từ ngữ, được bàn riêng ở các bài khác trong chuyên mục.

Giữ ở cấp làng: khi nhiều nhà cùng góp

Một nhà giữ được vài món, cả làng góp lại thì thành một câu chuyện. Nhiều nơi đã có góc trưng bày nông cụ trong nhà văn hoá thôn hoặc trong trường học, do chính người làng mang đồ đến. Giá trị của góc ấy không nằm ở số hiện vật mà ở chỗ mỗi món có tên người góp và một dòng chuyện kèm theo, để con cháu đến xem nhận ra đồ của ông bà mình.

Lễ hội cũng là nơi giữ nghề. Những làng còn giữ lễ xuống đồng, hội cày, thi cấy, thi nấu cơm thường giữ được cả kỹ năng lẫn từ ngữ, vì có dịp để dùng mỗi năm. Ở vùng cao, nhiều cộng đồng người Tày, Nùng còn tổ chức Lồng tồng đầu năm, người Ê Đê, Ba Na, Mạ, K'Ho còn giữ lễ mừng lúa mới; đó là những lúc tri thức về mùa vụ được kể lại công khai.

Cấp làng cũng là nơi phải quyết những chuyện khó: giữ lại một đoạn mương đất cổ hay kè bê tông, giữ cây đa đầu đồng hay mở rộng đường. Không có đáp án chung. Điều làm được là ghi lại hiện trạng trước khi thay đổi, để dù quyết thế nào thì đời sau vẫn biết ở đây từng có gì.

Những cách "giữ" vô tình làm hỏng di sản

Ý tốt chưa đủ. Có những cách làm trông như bảo tồn nhưng thực ra làm sai lệch, và khi sai lệch đã thành quen thì khó sửa.

Cách làm hay gặpVì sao hỏngLàm khác đi thế nào
Sơn bóng, đánh vecni lại nông cụ cũ cho đẹpMất vết mòn, vết sửa, dấu tay người dùng — chính là phần kể chuyệnChỉ lau bụi, chống mọt, giữ nguyên bề mặt
Dựng lễ hội thành màn diễn cho khách, rút gọn theo giờMất trình tự gắn với mùa vụ, người làng thành diễn viênGiữ lễ đúng mùa của làng, khách đến xem theo lịch đó
Làm mới nông cụ "giả cổ" để trưng bàyNgười xem tưởng là đồ thật, kích thước, chất liệu thường saiNếu cần đồ mẫu, ghi rõ là đồ làm lại, ai làm, năm nào
Ghi tên nông cụ theo tên phổ thông duy nhấtXoá mất tên gọi riêng của từng vùngGhi cả tên địa phương lẫn tên phổ thông
Chỉ chụp cảnh đẹp, bỏ qua người làmẢnh đẹp nhưng không ai biết ruộng đó của ai, làm thế nàoChụp cả người, động tác, mùa; ghi tên thửa ruộng, tên người (nếu họ đồng ý)

Một nguyên tắc dễ nhớ: thứ gì làm lại thì nói rõ là làm lại, thứ gì cũ thì để nó cũ. Di sản nghề nông quý ở chỗ nó thật, không phải ở chỗ nó đẹp.

Câu hỏi thường gặp

Di sản nghề nông có được pháp luật bảo vệ không?

Có ở một phần. Ruộng bậc thang, đình làng, một số lễ hội nông nghiệp đã được xếp hạng di tích hoặc ghi danh di sản phi vật thể cấp quốc gia và được bảo vệ theo luật di sản văn hoá hiện hành. Còn nông cụ, giống, câu hò trong từng gia đình thì phần lớn không nằm trong danh mục nào, nên giữ hay mất là do chính người dân.

Nhà có nông cụ cũ, nên giữ hay tặng bảo tàng?

Nếu gia đình còn chỗ khô ráo và có người quý, cứ giữ, kèm ghi chép tên gọi và người dùng. Nếu không giữ nổi, hỏi trường học, nhà văn hoá thôn hoặc bảo tàng tỉnh trước khi bán đồng nát. Bảo tàng thường chỉ nhận khi hiện vật có thông tin đi kèm, nên ghi chép càng kỹ càng dễ được nhận.

Giữ di sản có nghĩa là phải quay lại làm nông kiểu cũ không?

Không. Không ai cần quay lại cày trâu hay tát gàu để giữ di sản. Việc cần là ghi lại, giữ mẫu, truyền hiểu biết, và giữ những phần vẫn còn hợp với đời sống hôm nay như giống bản địa, ruộng bậc thang, lễ hội mùa vụ, tri thức đọc thời tiết.

Người ở thành phố có giúp được gì không?

Giúp được nhiều. Về quê, ngồi ghi âm chuyện ông bà, chụp lại đồ cũ trong nhà, đưa con đi xem ruộng vào mùa cấy, mùa gặt. Người ở phố còn có thể sắp xếp, số hoá tư liệu và chia sẻ cho họ hàng, vì người ở quê thường bận việc đồng hơn.

Có nên đưa đồ nông cụ cũ ra làm đồ trang trí quán cà phê, nhà hàng không?

Được, nếu giữ đồ nguyên trạng và không bịa thông tin. Nhiều nông cụ nhờ vậy mà không bị đốt bỏ. Chỉ nên tránh sơn lại, cưa cắt, và tránh ghi chú sai tên gọi hay công dụng; nếu biết món đó từ vùng nào, ai dùng thì ghi thêm sẽ có giá trị hơn.

Bắt đầu từ việc nào là hiệu quả nhất?

Phỏng vấn người lớn tuổi. Đồ vật còn chờ được vài năm, ruộng còn đó, nhưng trí nhớ của người từng làm thì không chờ. Một buổi ghi âm hai tiếng với ông bà về một năm làm ruộng thường giữ lại được nhiều hơn cả một tủ nông cụ không có lời kể.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.