Lồng tồng (có nơi viết Lồng tông) là lễ hội xuống đồng đầu năm của người Tày, Nùng: "lồng" là xuống, "tồng" là đồng. Lễ thường làm trong tháng Giêng âm lịch trên một thửa ruộng rộng của bản, gồm phần cúng thần nông, thổ địa cầu cho mưa thuận, lúa tốt, và phần hội với ném còn, kéo co, múa sư tử, hát then, hát lượn, hát sli.
Lồng tồng phổ biến ở các vùng người Tày, Nùng sinh sống như Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang (gồm cả Hà Giang cũ), Thái Nguyên (gồm cả Bắc Kạn cũ). Mỗi vùng, thậm chí mỗi xã, có ngày và nét riêng. Bài này đi qua ý nghĩa, các thành phần của lễ, và cách nhận ra nét khác giữa các nơi, kèm vài điều nên biết nếu muốn đến dự hội như một người khách biết ý tứ, không làm phiền phần lễ của bản.
Ý nghĩa của Lồng tồng trong nông lịch người Tày, Nùng
Người Tày, Nùng làm ruộng nước trong các thung lũng, cánh đồng ven suối, kết hợp nương bãi trên sườn đồi. Sau Tết Nguyên đán là quãng thời tiết còn lạnh, ruộng chờ nước, mạ chưa đủ tuổi. Lồng tồng rơi đúng vào lúc ấy, đánh dấu chuyển từ những ngày Tết sang mùa làm lụng.
Ý nghĩa đầu tiên là cầu mùa: cầu mưa thuận gió hoà, cầu lúa tốt, cầu người và gia súc khoẻ. Ý nghĩa thứ hai là cộng đồng: các bản trong vùng cùng góp lễ, cùng dự hội, trai gái các bản gặp nhau qua hát lượn, hát sli. Ý nghĩa thứ ba là mở việc: sau ngày hội, các nhà bắt đầu ra ruộng, sửa mương, gieo mạ.
Trong ký ức của nhiều người Tày, Nùng lớn tuổi, Lồng tồng còn là ngày hiếm hoi trong năm cả nhà mặc áo chàm mới, con gái đeo vòng bạc, trẻ con được cầm quả còn tự khâu ra bãi hội. Ngày hội vì thế gắn với tuổi thơ và với cảm giác năm mới thật sự bắt đầu, khi tiếng chiêng, tiếng trống từ cánh đồng vọng về các bản.
Nhìn theo cách ấy, Lồng tồng cùng một loại với lễ hạ điền của người Việt hay Khai hạ của người Mường, nhưng có hình thức riêng rất dễ nhận: cây còn dựng giữa ruộng, quả còn nhiều màu bay qua vòng, và những làn điệu then, lượn đặc trưng của vùng Việt Bắc.
Ruộng thung lũng, mương phai và nhịp mùa của người Tày, Nùng
Muốn hiểu vì sao Lồng tồng rơi vào tháng Giêng, cần nhìn vào cách người Tày, Nùng làm ruộng. Ruộng nước của họ thường nằm dọc các thung lũng hẹp, ven suối, được dẫn nước bằng hệ thống mương, phai (đập chắn nhỏ bằng đá, gỗ, tre) và ở nhiều nơi có cả cọn nước, guồng nước bằng tre đưa nước lên ruộng cao.
Trước khi có giống lúa ngắn ngày và hệ thống thuỷ lợi lớn, nhiều vùng chủ yếu làm một vụ lúa chính trong mùa mưa, còn mùa khô trồng ngô, đỗ, rau trên ruộng bãi và nương. Tháng Giêng, tháng Hai là lúc sửa mương, đắp phai, chuẩn bị đất cho vụ ngô xuân và chuẩn bị mạ. Việc sửa mương phai là việc chung của bản, nên một ngày hội chung đầu năm cũng là dịp nhắc nhau góp công.
Ở vài nơi, người dự lễ được chia một ít hạt giống hoặc lộc từ mâm cúng, mang về trộn vào giống nhà mình. Chi tiết này gợi lại tập quán trao đổi giống giữa các nhà trong bản, một cách giữ và luân chuyển giống trước khi có hệ thống giống thương mại.
Các thành phần của một ngày hội Lồng tồng
Bãi hội giữa đồng. Lễ thường tổ chức trên thửa ruộng rộng, bằng phẳng của bản hoặc của xã, sau vụ gặt trước đã để trống. Chọn ruộng thay vì sân đình là cách nhắc rằng đây là lễ của đồng ruộng.
Mâm cúng. Các gia đình hoặc các bản góp mâm lễ gồm xôi, nhiều nơi có xôi nhiều màu nhuộm bằng lá rừng, gà luộc, thịt lợn, bánh, rượu, hoa quả. Mâm được bày trên một lễ đài dựng tạm ngoài đồng.
Người chủ lễ. Thường là một thầy cúng hoặc người am hiểu nghi lễ của cộng đồng, có nơi là thầy then hoặc thầy tào theo cách gọi địa phương, cùng các bậc cao niên của bản.
Cây còn và quả còn. Cây còn là một cây tre hoặc vầu cao dựng giữa bãi, trên ngọn có vòng tròn dán giấy. Quả còn khâu bằng vải nhiều màu, nhồi hạt bông hoặc thóc, có dải vải dài làm đuôi. Ai ném quả còn xuyên qua vòng được cả hội reo hò.
Phần hội. Kéo co, đánh quay, đánh yến, múa sư tử, múa võ, hát then đàn tính, hát lượn của người Tày, hát sli của người Nùng. Ngày nay có thêm thi ẩm thực, văn nghệ, trưng bày sản vật.
Quả còn xuyên vòng: hiểu sao cho đúng
Khoảnh khắc được chờ đợi nhất của Lồng tồng là khi quả còn đầu tiên xuyên thủng vòng trên ngọn cây còn. Theo quan niệm dân gian, vòng còn được ném thủng là điềm cho một năm mưa thuận, mùa màng tươi tốt; ở nhiều nơi, người ném thủng được cả bản chúc mừng.
Nên đọc chi tiết này như một biểu tượng di sản chứ không phải lời dự báo. Về mặt hình ảnh, cây còn cao vút cắm giữa đồng và quả còn bay lên trời gợi đến mối nối giữa đất và trời, giữa người làm ruộng và mưa nắng. Nhiều nhà nghiên cứu văn hoá Tày, Nùng còn đọc ném còn như một hình thức giao duyên, vì trai gái thường ném còn cho nhau trong những ngày hội.
Về mặt thể thao, ném còn đòi hỏi sức tay, ước lượng khoảng cách và gió. Quả còn có đuôi dài nên đường bay không đơn giản. Ngày nay ném còn được đưa vào nhiều hội thi thể thao dân tộc, với luật chơi theo đội.
Ném còn cũng không riêng của người Tày, Nùng. Người Mường, người Thái và nhiều dân tộc khác ở miền núi phía Bắc đều có môn ném còn trong ngày hội đầu xuân, với cây còn, vòng còn và quả còn có hình dạng hơi khác nhau. So sánh các kiểu cây còn giữa các dân tộc là một đề tài thú vị cho người làm tư liệu văn hoá.
Lồng tồng ở các vùng: những nét khác thường gặp
Bảng dưới gom một số nét khác hay được người dự hội để ý. Đây là xu hướng chung, mỗi xã có thể có lệ riêng.
| Vùng | Thời điểm thường gặp | Nét hay được nhắc |
|---|---|---|
| Lạng Sơn | Rải rác suốt tháng Giêng, mỗi xã một ngày | Nhiều hội ở các thung lũng; hát lượn, hát sli; múa sư tử của người Nùng |
| Cao Bằng | Tháng Giêng, nhiều nơi quanh rằm | Hội gắn với các cánh đồng thung lũng; hát then đàn tính phổ biến |
| Tuyên Quang (gồm Hà Giang cũ) | Đầu tháng Giêng | Kết hợp với các lễ đầu xuân của nhiều dân tộc cùng vùng; có nơi có thi chọi trâu |
| Thái Nguyên (gồm Bắc Kạn cũ) | Tháng Giêng | Hội ở các cánh đồng quanh hồ, thung lũng; nhiều làn điệu then |
Khi đọc tài liệu cũ, tên tỉnh trước năm 2025 vẫn xuất hiện nhiều. Cần đối chiếu với tên tỉnh mới để không nhầm địa bàn.
Hát then, hát lượn, hát sli trong ngày hội
Âm nhạc là linh hồn của Lồng tồng. Then của người Tày, Nùng, Thái là loại hình nghệ thuật gắn với đàn tính và chùm xóc nhạc, từng được UNESCO ghi danh vào Danh sách di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2019 dưới tên Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam. Trong ngày Lồng tồng, then có thể xuất hiện trong phần lễ lẫn phần hội.
Hát lượn của người Tày và hát sli của người Nùng là lối hát đối đáp, thường giữa nam và nữ, nội dung về tình yêu, lao động, mùa màng, quê bản. Những ngày hội đầu xuân là dịp tốt để các bạn trẻ của các bản đến gặp nhau và hát đối.
Với người ngoài, cách thưởng thức tốt là lắng nghe, không cố quay phim quá gần người hát và không chen vào vòng hát. Có thể nhờ người địa phương giải thích lời hát, vì nhiều câu dùng hình ảnh nông nghiệp rất đẹp: hạt giống, đường mương, cánh đồng sau mưa.
Món ăn ngày hội: từ mâm cúng đến bữa cơm chung
Ẩm thực là phần người dự hội nhớ lâu. Trên mâm cúng Lồng tồng thường có xôi, nhiều nơi là xôi nhiều màu nhuộm từ lá cây rừng như lá cẩm, lá gấc, nghệ; có gà luộc, thịt lợn, bánh làm từ gạo nếp mới của vụ trước, và rượu ngô hoặc rượu gạo nấu tại bản.
Một số món đặc trưng của vùng Tày, Nùng hay xuất hiện trong những ngày đầu năm như bánh chưng gù, bánh gio, bánh khảo, khau nhục. Không phải hội nào cũng có đủ, và món cụ thể khác nhau giữa Lạng Sơn, Cao Bằng hay Tuyên Quang, nên nên hỏi người địa phương thay vì mặc định một thực đơn chung. Nhiều món làm từ nếp của vụ trước, như một cách mở mùa mới bằng thành quả của mùa cũ.
Sau phần lễ, mâm cúng được chia cho mọi người cùng thụ lộc. Việc cùng ăn ngay trên đồng là cách cả bản chia sẻ hy vọng cho mùa mới. Với khách đến dự, nhận một miếng xôi, một chén rượu mời là cách tham gia lịch sự; nếu không uống được rượu, có thể nhấp môi và cảm ơn.
Lồng tồng hôm nay: giữ phần nào, đổi phần nào
Ở nhiều địa phương, Lồng tồng được tổ chức ở quy mô xã hoặc liên xã với sự hỗ trợ của chính quyền, có thêm sân khấu, loa đài, gian hàng sản vật. Phần hội vì thế đông vui hơn, còn phần lễ có khi rút gọn.
Những thay đổi này không nhất thiết làm mất ý nghĩa của lễ, miễn là cộng đồng vẫn giữ quyền quyết định cách làm lễ, người cao tuổi vẫn được mời chủ trì phần cúng, và các làn điệu then, lượn, sli vẫn do chính người trong bản hát.
Người làm du lịch hay chụp ảnh nên tôn trọng những điều này: không yêu cầu diễn lại nghi thức cho đẹp hình, không leo lên lễ đài, không ném còn khi chưa đến phần hội. Một ngày hội xuống đồng giữ được nhịp của bản là thứ đáng xem hơn mọi màn trình diễn sắp đặt.
Với người trong cộng đồng, việc ghi lại Lồng tồng của bản mình bằng ảnh, ghi âm lời then, lời lượn và lời kể của người chủ lễ là cách giữ di sản bền nhất. Những tư liệu ấy về sau giúp con cháu đi xa vẫn biết bản mình mở mùa thế nào.
Câu hỏi thường gặp
Lồng tồng và Lồng tông có khác nhau không?
Đó là hai cách viết của cùng một tên gọi, phản ánh khác biệt phát âm giữa các vùng và cách phiên âm sang chữ quốc ngữ. Cả hai đều chỉ lễ hội xuống đồng đầu năm của người Tày, Nùng.
Lồng tồng thường diễn ra vào ngày nào?
Phần lớn trong tháng Giêng âm lịch, mỗi xã, mỗi bản chọn một ngày theo lệ riêng, nên có những vùng hầu như ngày nào trong tháng Giêng cũng có một nơi mở hội. Muốn đi dự cần hỏi lịch của từng địa phương năm đó.
Quả còn được làm như thế nào?
Quả còn thường khâu từ nhiều mảnh vải màu thành hình cầu cỡ nắm tay, bên trong nhồi hạt bông, thóc hoặc cát, có dải vải dài làm đuôi để cầm và ném. Kích thước và cách khâu có thể khác nhau giữa các vùng.
Khách có được tham gia ném còn không?
Ở nhiều hội, phần ném còn mở cho mọi người sau khi phần lễ kết thúc, khách có thể tham gia nếu ban tổ chức cho phép. Nên hỏi người địa phương trước, đứng đúng khu vực, và chú ý những người đứng gần để tránh ném trúng người.
Thực hành Then được UNESCO ghi danh năm nào?
Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam được UNESCO ghi danh vào Danh sách di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2019. Then thường xuất hiện trong các lễ hội đầu năm, trong đó có Lồng tồng.
Có thể xem Lồng tồng ở đâu gần Hà Nội nhất?
Các tỉnh có đông người Tày, Nùng gần Hà Nội như Thái Nguyên, Lạng Sơn, Tuyên Quang đều có nhiều hội Lồng tồng trong tháng Giêng. Cách chắc nhất là theo dõi thông báo của từng xã hoặc hỏi người quen ở địa phương về ngày mở hội năm đó.