PhuNong.comPhú Nông
Lễ hội nông nghiệp

Lễ hội nông nghiệp Việt Nam: các lễ đi theo nhịp mùa vụ từ đầu xuân đến sau gặt

Lễ hội nông nghiệp Việt Nam gồm những lễ nào, diễn ra lúc nào trong năm và vì sao gắn với mùa vụ: từ Tịch điền, xuống đồng, cầu mưa đến mừng lúa mới.

Villagers in a long procession carrying a wooden palanquin along a dyke between green rice fields, morning haze, seen from far behind

Lễ hội nông nghiệp Việt Nam là những lễ của cộng đồng làng, bản đặt vào các mốc của một vụ lúa: mở mùa cày cấy đầu năm, cầu mưa khi trời hạn, cầu cho lúa lên đòng không sâu bệnh, rồi tạ ơn khi thóc đã vào bồ. Người Việt ở đồng bằng có lễ Tịch điền, lễ hạ điền, lễ thượng điền và hội làng mùa thu; người Tày, Nùng có Lồng tồng; các dân tộc Tây Nguyên có lễ mừng lúa mới; người Khmer Nam Bộ có lễ cúng trăng Ok Om Bok sau mùa gặt.

Muốn hiểu một lễ hội nông nghiệp, cách dễ nhất là hỏi nó rơi vào khúc nào của vụ lúa. Lễ đầu vụ thường có động tác làm mẫu như cày vài đường, cấy vài khóm; lễ giữa vụ xoay quanh nước và sâu bệnh; lễ cuối vụ có cơm mới, rượu mới và những cuộc thi tài lúc nông nhàn. Bài này đi qua từng khúc ấy, so sánh các vùng, và chỉ ra phần nào còn sống trong làng hôm nay.

Vì sao lễ hội của nhà nông bám theo vụ lúa

Ở một xã hội trồng lúa nước, thời gian trong năm không chia đều. Có những tuần cả làng không ai rảnh tay, như lúc làm đất, cấy, gặt; lại có những quãng dài gần như không có việc đồng, như tháng Giêng hay sau vụ mùa tháng Mười âm lịch. Lễ hội rơi vào khoảng nông nhàn là lẽ tự nhiên: người ta chỉ dựng rạp, rước kiệu, thi vật được khi ruộng không cần người.

Lý do thứ hai là nỗi lo. Trước khi có hệ thống thuỷ nông hiện đại, một vụ lúa phụ thuộc rất nhiều vào mưa đúng lúc, nước sông không vỡ đê, sâu rầy không phát dịch. Những lễ đầu vụ và giữa vụ là cách cộng đồng cùng nhau bày tỏ mong muốn ấy, đồng thời nhắc nhau vào việc: ngày lễ xuống đồng cũng là ngày cả làng thống nhất bắt đầu cấy, ai nấy chuẩn bị mạ, trâu, nông cụ.

Lý do thứ ba là chia sẻ. Lễ mừng lúa mới hay hội làng mùa thu là lúc nhà nông được mùa đem phần thóc, nếp, gà, rượu ra góp chung; người nghèo, người già, khách phương xa cùng được ăn. Nhiều nhà nghiên cứu văn hoá dân gian coi đây là cơ chế giữ gắn kết làng xã chứ không chỉ là dịp vui chơi.

Vì ba lý do ấy, một lễ hội nông nghiệp thường có hai phần đi liền nhau mà người làng gọi gọn là phần lễ và phần hội. Phần lễ nghiêm, ít người, diễn ở đình, miếu hoặc ngay trên thửa ruộng; phần hội đông, vui, mở cho cả khách phương xa. Khi đọc tư liệu về một lễ hội, nên tách riêng hai phần này, vì phần lễ cho biết người xưa lo gì, còn phần hội cho biết họ vui gì và rảnh tay vào lúc nào.

Một năm lễ hội của nhà nông: lễ nào rơi vào khúc nào

Bảng dưới xếp các lễ phổ biến theo vòng một vụ lúa. Thời điểm là khoảng thường gặp, mỗi làng, mỗi bản có thể lệch theo lịch thời vụ riêng.

Khúc của vụLễ tiêu biểuCộng đồng, vùngViệc chính trong lễ
Đầu xuân, trước khi cày cấyLễ Tịch điền, lễ khai canh, lễ hạ điềnNgười Việt ở đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung BộNgười đứng đầu cày vài đường hoặc cấy vài khóm mạ làm mẫu
Tháng Giêng, tháng Hai âm lịchLồng tồng (hội xuống đồng)Người Tày, Nùng ở Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang, Thái NguyênCúng thần nông, ném còn, kéo co, chia lộc giống
Cuối mùa khô, khi trời hạnLễ cầu mưa, rước nướcNhiều làng Việt, người Chăm, nhiều dân tộc vùng caoRước nước từ sông, giếng về đình; lễ ở đầu mương, đầu nguồn
Lúa đang lên, giữa vụLễ cầu cho lúa, lễ trừ sâu theo tục cũRải rác ở nhiều vùngDâng cúng ở miếu đồng, cắm cây nêu ở ruộng
Sau gặtLễ thượng điền, lễ cơm mới, hội làng mùa thuNgười Việt, đình Nam BộDâng cơm nếp mới, tạ ơn, mở hội làng
Sau gặt rẫy cuối năm dương lịchLễ mừng lúa mớiÊ Đê, M'nông, Ba Na, Gia Rai, Xơ Đăng, Cơ HoĐưa hồn lúa về kho, ăn cơm mới, đánh chiêng
Rằm tháng Mười âm lịchOk Om Bok, đua ghe ngoNgười Khmer Nam BộCúng trăng tạ mùa màng, đút cốm dẹp, đua ghe trên sông

Đọc bảng theo chiều dọc sẽ thấy một quy luật: càng gần những tháng bận rộn, lễ càng gọn và mang tính mở việc; càng xa mùa vụ, lễ càng dài ngày và nhiều phần hội.

Lễ mở mùa: khi người đứng đầu xuống ruộng trước

Điểm chung của các lễ đầu vụ ở nhiều nền văn hoá lúa nước là động tác làm mẫu. Ở cấp triều đình, đó là lễ Tịch điền: theo Đại Việt sử ký toàn thư, mùa xuân năm 987 vua Lê Đại Hành cày ruộng ở núi Đọi, mở đầu một nghi lễ được các triều sau tiếp nối. Ở cấp làng, đó là lễ hạ điền: một bậc cao niên hoặc người được làng chọn cày đường đầu tiên, cấy những khóm mạ đầu tiên trên thửa ruộng công, sau đó các nhà mới ra đồng.

Người Tày, Nùng có Lồng tồng, nghĩa đen là xuống đồng. Lễ thường làm trên một thửa ruộng rộng của bản trong tháng Giêng, gồm phần cúng thần nông, thần thổ địa và phần hội với ném còn, kéo co, múa sư tử, hát then, hát lượn. Có nơi người dự lễ được chia hạt giống hoặc nắm cơm từ mâm cúng, mang về trộn vào giống nhà mình như lấy may.

Cái lõi của lễ mở mùa vì thế rất thực tế: báo hiệu thời điểm, chia việc cho cộng đồng, và tạo một khởi đầu có trật tự sau kỳ nghỉ Tết dài.

Lễ giữa vụ: nước, sâu bệnh và những miếu đồng

Giữa vụ là lúc nỗi lo lớn nhất của nhà nông lộ rõ: hạn hay lụt. Ở đồng bằng Bắc Bộ còn lưu nhiều lễ rước nước, trong đó dân làng chèo thuyền ra giữa sông lấy nước trong vào chum, rước về đình để dùng trong lễ. Hội Dâu ở Bắc Ninh với hệ thống Tứ Pháp (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện, tức mây, mưa, sấm, chớp) là ví dụ hay được nhắc khi bàn về tín ngưỡng cầu mưa của cư dân lúa nước.

Người Chăm ở vùng khô hạn duyên hải Nam Trung Bộ có các lễ gắn với đắp đập, khơi mương đầu mùa, vì với họ nước tưới là mạch sống của ruộng. Nhiều dân tộc vùng cao có lễ cúng ở đầu nguồn nước của bản, có nơi kiêng chặt cây quanh nguồn.

Trên đồng ruộng xưa còn có những miếu nhỏ, thường gọi là miếu đồng hoặc miếu thổ địa, nơi người làm ruộng thắp hương khi lúa trổ. Nhìn bằng con mắt nông học hôm nay, các tục kiêng chặt cây đầu nguồn hay giữ rừng quanh mó nước lại trùng với điều khoa học thuỷ văn khuyến nghị: giữ thảm cây để giữ nước.

Lễ cuối vụ: cơm mới, hội làng và những cuộc thi tài

Lễ thượng điền ở Nam Bộ. Nhiều đình làng Nam Bộ giữ cặp lễ hạ điền lúc xuống giống và thượng điền sau thu hoạch, thường đi kèm lễ Kỳ yên cầu an cho cả xóm. Lễ thượng điền là dịp tạ ơn, cũng là lúc làng nhìn lại một vụ được hay mất.

Tết cơm mới của người Việt. Ở nhiều làng Bắc Bộ, khoảng tháng Mười âm lịch, khi lúa mùa đã gặt, các nhà làm mâm cơm bằng gạo mới, có nơi thêm cốm, chè nếp mới, dâng lên bàn thờ tổ tiên trước khi cả nhà ăn. Tục này không cần đình đám, nhưng gần như nhà nào cũng có.

Mừng lúa mới ở Tây Nguyên. Các dân tộc Ê Đê, M'nông, Ba Na, Gia Rai, Xơ Đăng, Cơ Ho làm lễ khi lúa rẫy đã vào kho, thường từ cuối tháng Mười một đến tháng Mười hai dương lịch. Lễ có phần đưa hồn lúa về kho, ăn cơm mới, uống rượu cần và đánh chiêng nhiều ngày.

Ok Om Bok của người Khmer. Đêm rằm tháng Mười âm lịch, người Khmer ở Cần Thơ (Sóc Trăng cũ), Trà Vinh cũ (nay thuộc Vĩnh Long), An Giang cúng trăng để tạ ơn mùa màng, rồi hôm sau đua ghe ngo trên sông.

Thi tài lúc nông nhàn. Chọi trâu, vật, đấu vật, kéo co, đánh đu là những hoạt động hay gắn với hội làng sau gặt hoặc đầu xuân. Chúng cần thời gian chuẩn bị dài, mà chỉ nông nhàn mới có thời gian ấy.

Con trâu, cây nêu và những biểu tượng chung

Đi qua nhiều lễ hội nông nghiệp sẽ gặp lại vài hình ảnh. Con trâu xuất hiện trong lễ Tịch điền, trong tục cho trâu nghỉ ngày Tết, trong hội chọi trâu ở Đồ Sơn (Hải Phòng) hay Hải Lựu (nay thuộc Phú Thọ). Ở một nền nông nghiệp mà sức kéo chủ yếu dựa vào trâu, việc tôn vinh con vật này là sự thừa nhận vai trò thật của nó trong sản xuất.

Cây nêu là biểu tượng thứ hai. Người Việt dựng nêu dịp Tết, hạ nêu ngày mùng Bảy, cũng là ngày nhiều nơi coi như hết Tết để trở lại việc đồng. Các dân tộc Tây Nguyên dựng cây nêu trong những lễ lớn ở sân nhà rông, quanh đó là vòng xoang theo nhịp chiêng.

Biểu tượng thứ ba là gạo nếp. Bánh chưng, bánh giầy, xôi, cốm, rượu cần đều từ nếp, và gần như lễ nông nghiệp nào cũng có món nếp. Truyền thuyết Lang Liêu dâng bánh chưng bánh giầy lên vua Hùng thường được kể như câu chuyện đặt hạt gạo vào vị trí trung tâm của lễ nghi người Việt.

Lễ hội nông nghiệp hôm nay: còn gì, đổi gì

Khi máy cày, máy gặt thay sức trâu và lịch thời vụ do ngành nông nghiệp khuyến cáo theo từng vùng, nhiều lễ không còn giữ chức năng báo mùa như trước. Ngày cấy không cần chờ lễ hạ điền, và một xã có thể có ruộng gieo sạ sớm muộn khác nhau.

Dù vậy, nhiều lễ được các địa phương phục dựng như lễ hội văn hoá đầu xuân, ví dụ lễ hội Tịch điền Đọi Sơn tổ chức hằng năm từ những năm 2000 ở vùng Duy Tiên (Hà Nam cũ, nay thuộc Ninh Bình), hay Lồng tồng ở nhiều xã vùng núi phía Bắc. Phần hội thường đậm hơn phần lễ, có thêm thi ẩm thực, văn nghệ, trưng bày sản vật.

Với người muốn tìm hiểu, nên phân biệt ba lớp khi xem một lễ hội: lớp nghi lễ cổ còn lưu, lớp phục dựng dựa trên tư liệu, và lớp sân khấu hoá phục vụ khách. Cả ba đều có giá trị, nhưng chỉ lớp đầu cho biết ông bà ta từng làm gì thật. Hỏi các cụ cao niên trong làng, đọc hương ước, văn bia, sách địa chí địa phương là cách tách được các lớp ấy.

Câu hỏi thường gặp

Lễ hội nông nghiệp lớn nhất Việt Nam là lễ nào?

Không có thước đo chung nào để gọi một lễ là lớn nhất. Lễ Tịch điền có ý nghĩa lịch sử cao vì gắn với triều đình từ thế kỷ 10; Lồng tồng phổ biến rộng ở vùng Tày, Nùng; lễ mừng lúa mới quan trọng với nhiều dân tộc Tây Nguyên. Mỗi lễ lớn theo một cách khác nhau.

Vì sao lễ hội ở miền Bắc tập trung vào mùa xuân?

Tháng Giêng, tháng Hai âm lịch là quãng nông nhàn sau Tết và trước khi vụ chiêm xuân vào guồng chính, nên làng có người, có thời gian. Ca dao "tháng Giêng là tháng ăn chơi" phản ánh đúng nhịp ấy. Vùng có mùa vụ khác thì lễ hội cũng dồn vào lúc khác, như Nam Bộ hay Tây Nguyên.

Lễ hạ điền và lễ thượng điền khác nhau thế nào?

Hạ điền là lễ khi bắt đầu xuống ruộng làm mùa, mang ý nghĩa mở việc và cầu một vụ thuận. Thượng điền là lễ sau khi thu hoạch xong, mang ý nghĩa tạ ơn và tổng kết. Cặp lễ này còn giữ rõ ở nhiều đình làng Nam Bộ.

Học sinh muốn làm bài tìm hiểu về lễ hội nông nghiệp nên bắt đầu từ đâu?

Nên chọn một lễ cụ thể ở gần nơi mình sống, hỏi người cao tuổi lễ diễn ra lúc nào trong vụ lúa, ai đứng chủ lễ, có món ăn gì, có hoạt động thi tài gì. Sau đó đối chiếu với sách địa chí của địa phương và so với một lễ cùng chức năng ở vùng khác.

Lễ hội nông nghiệp có phải là mê tín không?

Nên nhìn lễ hội nông nghiệp như di sản văn hoá: nó ghi lại nỗi lo, kinh nghiệm và cách tổ chức cộng đồng của người làm ruộng xưa. Phần nghi lễ là niềm tin của người trong cuộc, cần được tôn trọng, còn giá trị ta học được nằm ở lịch mùa, cách chia việc và tinh thần chia sẻ.

Khách du lịch dự lễ hội nông nghiệp cần lưu ý gì?

Đứng ngoài khu vực hành lễ, không chen vào đoàn rước, hỏi trước khi chụp ảnh người, ăn mặc kín đáo khi vào đình, miếu. Ở bản vùng cao, nên đi cùng người địa phương và tuân theo những điều bản kiêng trong ngày lễ.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.