PhuNong.comPhú Nông
Lễ hội nông nghiệp

Tết Nguyên đán và nhịp mùa vụ: vì sao cái Tết của người Việt là một mốc nông lịch

Tết Nguyên đán rơi vào lúc nào của vụ lúa, cây nêu, bánh chưng, ngày khai hạ nói gì về nghề nông, và vì sao Tết ở đồng bằng Bắc Bộ khác nhịp với Tết ở Nam Bộ.

Tall bamboo pole decorated with dried leaves in a farmhouse yard beside a winter rice field of young seedlings, grey dawn, wide angle

Tết Nguyên đán là một mốc nông lịch: nó rơi vào quãng nông nhàn giữa vụ mùa đã gặt và vụ chiêm xuân sắp cấy ở đồng bằng Bắc Bộ, nên người làm ruộng có thời gian nghỉ, sum họp và chuẩn bị cho mùa mới. Nhiều phong tục Tết như dựng cây nêu, gói bánh chưng bằng nếp mới, cho trâu nghỉ, lễ khai hạ hạ nêu ngày mùng Bảy đều mang dấu vết của nghề nông.

Chữ "Tết" được cho là đọc trại từ chữ "tiết", tức điểm chuyển của thời tiết; "nguyên đán" là buổi sáng đầu tiên của năm. Bài này giải thích Tết nằm ở đâu trong vòng mùa vụ, các phong tục nào có gốc nông nghiệp, vì sao Tết ở Nam Bộ có nhịp khác, và các Tết khác trong năm cũng bám theo việc đồng ra sao.

Tết rơi vào đâu trong năm của người làm ruộng

Theo âm dương lịch, mùng Một Tết luôn rơi vào khoảng từ cuối tháng Một đến giữa tháng Hai dương lịch, gần với tiết Lập xuân (khoảng ngày 4 tháng 2). Ở đồng bằng Bắc Bộ, đây là lúc vụ mùa đã gặt từ tháng Mười âm lịch, thóc đã phơi khô vào bồ, rơm đã đánh đống.

Vụ chiêm xuân thì chưa vào guồng chính. Mạ có thể đã gieo, ruộng có thể đã cày ải, nhưng rét đậm của tháng Chạp, tháng Giêng khiến việc cấy thường phải chờ sau Tết, khi nhiệt độ ấm lên. Khoảng trống giữa hai vụ ấy, dài chừng vài tuần, chính là không gian để cái Tết dài ngày của làng quê tồn tại.

Bài ca dao quen thuộc "Tháng Chạp là tháng trồng khoai, tháng Giêng trồng đậu, tháng Hai trồng cà" cho thấy nông nhàn không có nghĩa là không có việc: vẫn có khoai, đậu, rau màu trên đất bãi. Nhưng việc màu nhẹ, linh hoạt, không cần cả làng cùng làm như việc lúa. Vì vậy câu "tháng Giêng là tháng ăn chơi" nói đúng về nhịp lao động lúa nước, không phải nói người xưa lười.

Một lý do nữa khiến Tết kéo dài ở làng quê là thời tiết. Mưa phùn, rét ẩm đầu xuân làm đất khó cày, mạ dễ chết rét nếu cấy sớm. Kinh nghiệm cấy sau khi trời ấm, mà ngày nay ngành nông nghiệp vẫn khuyến cáo qua các đợt né rét cho mạ và lúa chiêm, đã được ông bà ta thực hành bằng chính kỳ nghỉ Tết.

Những phong tục Tết mang dấu nghề nông

Cây nêu. Ở nhiều làng Bắc Bộ, cây nêu là cây tre dựng trước sân từ khoảng 23 tháng Chạp, trên ngọn treo lá dứa, khánh đất, bó lá hoặc vật trang trí tuỳ vùng. Truyện dân gian kể cây nêu đánh dấu vùng đất của con người. Ngày mùng Bảy hạ nêu cũng là lúc nhiều nhà coi như hết Tết để quay lại việc đồng.

Bánh chưng, bánh tét. Bánh làm từ gạo nếp, đậu xanh, thịt lợn, gói lá dong hoặc lá chuối, đều là sản vật của ruộng vườn. Truyền thuyết Lang Liêu dâng bánh chưng, bánh giầy lên vua Hùng thường được kể như lời đề cao hạt gạo, thứ quý nhất của nhà nông.

Mâm ngũ quả và cành đào, cành mai. Mâm quả bày những thứ vườn nhà có trong mùa, cành đào, cành mai báo xuân về. Đó là cách đưa cây trái của vườn quê vào không gian lễ của gia đình.

Cho trâu nghỉ. Trong những ngày Tết, trâu bò được nghỉ cày, được tắm rửa, cho ăn tốt, chuồng được dọn sạch. Tục này thể hiện sự trân trọng với con vật gắn bó nhất với nghề nông.

Hái lộc đầu năm. Người đi lễ đầu năm bẻ một cành non mang về nhà. Hình ảnh chồi non, mầm mới vốn là ẩn dụ quen thuộc của người làm ruộng cho sự sinh sôi.

Lễ khai canh đầu năm. Ở một số làng, sau Tết có lễ khai canh hoặc hạ điền, người chủ lễ cày vài đường đầu tiên. Ở nhà, có chủ hộ ra ruộng cuốc vài nhát, cấy vài khóm vào một ngày đầu năm như mở việc.

Ngày mùng Bảy: hạ nêu, khai hạ và trở lại đồng

Ở nhiều vùng đồng bằng Bắc Bộ, mùng Bảy tháng Giêng là ngày hạ cây nêu, còn gọi là lễ khai hạ. Từ ngày này, không khí Tết trong nhà khép lại, người ta bắt đầu quay về nhịp làm ăn. Đây cũng là quãng các làng mở hội đầu xuân, nhiều hội gắn với việc nông như hạ điền, Tịch điền, hay Lồng tồng ở vùng Tày, Nùng.

Trình tự Tết rồi hội rồi vào vụ thể hiện một lối sắp xếp thời gian rất hợp lý của cư dân lúa nước: ăn Tết trong gia đình trước, mở hội cộng đồng sau, cuối cùng mới xuống đồng. Khi cả làng đã sum họp, đã cùng vui, đã định ngày xuống đồng chung, mùa vụ mới bắt đầu với sự đồng lòng.

Ở vùng núi, người Mường gọi lễ đầu năm của mình là Khai hạ, với lễ hội Khai hạ Mường Bi khá nổi tiếng. Tên gọi trùng với lễ khai hạ của người Việt cho thấy sự giao thoa về lịch lễ giữa các cộng đồng sống gần nhau.

Ngày nay mùng Bảy vẫn được nhiều gia đình ở nông thôn coi là mốc hết Tết, dù lịch nghỉ chính thức thường ngắn hơn. Ở những làng còn cấy tay, tuần sau mùng Bảy là lúc ruộng đông người trở lại, tiếng gọi nhau đổi công vang khắp đồng. Với người nghiên cứu, ghi lại một làng bắt đầu cấy vào ngày nào sau Tết qua nhiều năm là tư liệu tốt để thấy lịch mùa đã thay đổi thế nào dưới tác động của giống mới, máy móc và thời tiết.

Tết ở Bắc Bộ và Tết ở Nam Bộ: khác nhịp vì khác mùa vụ

Tết Nguyên đán là chung, nhưng vị trí của nó trong mùa vụ khác nhau giữa các vùng. Bảng dưới so sánh hai đồng bằng lớn theo nhịp truyền thống.

Điểm so sánhĐồng bằng sông HồngĐồng bằng sông Cửu Long
Khí hậu dịp TếtRét, có mưa phùn, độ ẩm caoMùa khô, nắng ráo, gió chướng
Vụ lúa trước TếtVụ mùa đã gặt từ khoảng tháng Mười âm lịchLúa mùa, lúa một vụ vừa gặt hoặc đông xuân đang lên
Vụ lúa sau TếtCấy vụ chiêm xuân khi trời ấm lênGặt đông xuân vào khoảng sau Tết ở nhiều nơi
Bánh truyền thốngBánh chưng vuôngBánh tét dài
Cây ngày TếtĐào, quất, cây nêu ở làngMai vàng, cây nêu ở một số vùng
Lễ đầu năm gắn nông nghiệpKhai hạ, hạ điền, hội xuống đồngLễ Kỳ yên, hạ điền ở đình theo lịch riêng

Ở đồng bằng sông Cửu Long, nhiều nơi bận gặt đông xuân ngay sau Tết, nên người làm ruộng thường nói Tết ở đây "ăn gọn" hơn. Sự khác biệt ấy không phải do phong tục, mà do lịch mùa.

Năm mới của các dân tộc khác: cũng theo lịch mùa

Không phải cộng đồng nào ở Việt Nam cũng đón năm mới cùng lúc với Tết Nguyên đán, và chính sự khác nhau ấy cho thấy rõ gốc nông nghiệp của các cái Tết. Người Khmer Nam Bộ đón năm mới Chôl Chnăm Thmây vào khoảng giữa tháng Tư dương lịch. Đó là lúc mùa gặt đã xong, mùa khô ở cao điểm, ruộng nghỉ, và người làm ruộng chuẩn bị đón mùa mưa đầu tiên.

Người H'Mông ở nhiều vùng núi phía Bắc có Tết riêng của mình, thường sớm hơn Tết Nguyên đán, sau khi đã thu hoạch xong ngô, lúa nương và cất vào nhà. Lịch cụ thể khác nhau giữa các vùng và có nơi đã chuyển sang ăn Tết cùng thời điểm với Tết Nguyên đán.

Đặt các cái Tết cạnh nhau sẽ thấy một quy tắc chung: năm mới bắt đầu khi việc gặt hái của vụ chính đã khép lại và trước khi mùa làm lụng mới bắt đầu. Cái khác là vụ chính rơi vào lúc nào ở mỗi vùng. Người Việt đồng bằng Bắc Bộ, người Khmer đồng bằng sông Cửu Long hay người H'Mông vùng cao đều đặt năm mới vào khúc nghỉ của lịch mùa mình.

Các Tết khác trong năm cũng bám theo việc đồng

Ngoài Tết Nguyên đán, lịch lễ truyền thống của người Việt có nhiều ngày Tết nhỏ. Đặt chúng cạnh mùa vụ sẽ thấy hầu hết rơi vào điểm chuyển của việc đồng:

  • Tết Thanh minh (tháng Ba âm lịch): đi tảo mộ, sửa sang mộ phần, đúng lúc trời quang, việc đồng ít, đất đã khô ráo hơn sau mưa phùn.
  • Tết Đoan ngọ (mùng 5 tháng 5): dân gian gọi là ngày giết sâu bọ, ăn trái cây chua, rượu nếp. Thời điểm này ở Bắc Bộ là lúc gặt vụ chiêm, sâu bệnh nhiều, thời tiết nắng nóng, nên tục lệ gắn với phòng bệnh và mừng thu hoạch.
  • Rằm tháng Bảy: đã cấy xong vụ mùa, mùa mưa đang lên, làng có thời gian cho các lễ trong gia đình.
  • Tết Trung thu (rằm tháng Tám): lúa mùa đang thì con gái, trời trong, trăng sáng. Trung thu xưa vừa là Tết của trẻ em vừa là dịp người lớn ngắm trăng đoán mùa màng theo kinh nghiệm dân gian.
  • Tết cơm mới (khoảng tháng Mười): gặt vụ mùa xong, các nhà dâng cơm gạo mới lên tổ tiên trước khi ăn.

Chuỗi Tết ấy là một kiểu lịch làm việc được cả cộng đồng ghi nhớ bằng lễ và món ăn, trước khi lịch in và điện thoại có mặt ở mọi nhà.

Tết làng quê hôm nay và những điều đáng giữ

Khi nhiều người làm việc ở thành phố, Tết đi theo lịch nghỉ của cơ quan, nhà máy, trường học hơn là lịch mùa vụ. Máy cày, máy cấy làm ngắn thời gian vào vụ, và nhiều làng không còn ai dựng cây nêu. Nhịp nông nghiệp của Tết vì thế mờ dần.

Dù vậy, vẫn có những phần đáng kể cho con cháu nghe: vì sao bánh chưng dùng nếp, vì sao Tết ở quê nội rét mà ở quê ngoại Nam Bộ lại nắng, vì sao ông bà xưa nghỉ đến hết tháng Giêng. Những câu chuyện ấy giúp trẻ ở phố hiểu rằng cái Tết mình ăn bắt nguồn từ cánh đồng.

Với gia đình còn ruộng ở quê, một việc nhỏ mà có ý nghĩa là đưa con ra đồng một buổi sáng đầu năm, xem ruộng chiêm, mạ non, kể về lễ xuống đồng của làng thời ông bà. Ví dụ giả định: một gia đình ở Hà Nội về quê ngoại ở Thái Bình cũ (nay thuộc Hưng Yên) dịp Tết, cho con theo ông ra thăm ruộng mùng Bốn và tự tay cắm vài khóm mạ. Buổi sáng ấy dạy về nghề nông nhiều hơn mọi trang sách.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao gọi là Tết Nguyên đán?

Tết được cho là đọc trại từ chữ "tiết", chỉ điểm chuyển của thời tiết trong năm. Nguyên đán nghĩa là buổi sáng đầu tiên của năm. Tết Nguyên đán vì thế là tiết đầu năm, mốc mở một vòng thời tiết và một vòng mùa vụ mới.

Tết Nguyên đán có liên quan đến tiết Lập xuân không?

Có liên quan về thời điểm. Lập xuân rơi khoảng ngày 4 tháng 2 dương lịch, còn mùng Một Tết dao động quanh mốc này trong vài tuần. Âm dương lịch được điều chỉnh bằng tháng nhuận để Tết không trôi quá xa khỏi đầu xuân.

Vì sao nói "tháng Giêng là tháng ăn chơi"?

Ở đồng bằng Bắc Bộ, tháng Giêng là quãng nông nhàn giữa vụ mùa đã gặt và vụ chiêm xuân chưa cấy rộ, lại có rét đậm. Làng có thời gian ăn Tết, mở hội. Câu này nói về nhịp lúa nước, không có nghĩa người xưa không làm gì cả tháng.

Cây nêu ngày Tết có ý nghĩa gì với nhà nông?

Theo truyện dân gian, cây nêu đánh dấu đất của con người trong cuộc tranh đất với ma quỷ. Với nhà nông, việc dựng nêu cuối năm và hạ nêu ngày mùng Bảy cũng là mốc mở đầu và kết thúc kỳ nghỉ Tết, sau đó mọi người quay lại việc đồng.

Tết ở Nam Bộ có lễ xuống đồng không?

Lịch mùa vụ Nam Bộ khác Bắc Bộ, nhiều nơi đang gặt lúa đông xuân sau Tết, nên lễ xuống đồng không gắn với Tết. Các đình Nam Bộ thường có lễ hạ điền vào đầu mùa mưa và lễ thượng điền sau thu hoạch theo lịch riêng.

Làm sao giải thích cho trẻ ở thành phố về gốc nông nghiệp của Tết?

Có thể bắt đầu từ các món trong mâm Tết: gạo nếp, đậu xanh, lá dong đều từ ruộng vườn. Sau đó kể chuyện Lang Liêu, chuyện trâu được nghỉ Tết, và nếu có dịp thì cho trẻ ra đồng xem ruộng chiêm, mạ non vào những ngày đầu năm.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.