Nông cụ nương rẫy của đồng bào Tây Nguyên và vùng cao gồm chà gạc và rìu để phát rẫy, gậy nhọn để chọc lỗ tra hạt, cuốc nhỏ và dụng cụ nạo cỏ để làm cỏ, đôi tay để tuốt lúa, chiếc gùi để mang mọi thứ, và kho lúa chân cao để cất giữ. Chúng nhẹ, ít sắt, dễ mang theo đường dốc, và được làm cho đất đồi, mùa mưa ngắn, nơi cày bừa không dùng được.
Người ở đồng bằng hay hình dung nông cụ Việt là cày, bừa, gàu. Trên núi và cao nguyên, nơi người Ba Na, Gia Rai, Ê Đê, Xơ Đăng, M'nông, Cơ Ho và nhiều dân tộc khác làm rẫy, bộ đồ nghề khác hẳn và gắn với một hệ canh tác riêng. Bài viết kể theo vòng một mùa rẫy, với cái nhìn khách quan về cách làm nông đã nuôi sống nhiều cộng đồng qua nhiều thế hệ.
Hiểu đúng về nương rẫy trước khi nói đến nông cụ
Nương rẫy truyền thống ở Tây Nguyên và miền núi thường được làm theo lối luân khoảnh: một khoảnh rừng được phát, đốt, gieo trồng một vài vụ, rồi để nghỉ cho cây rừng mọc lại, đất hồi màu. Sau nhiều năm, người ta quay lại khoảnh cũ. Trong thời gian đó, cộng đồng canh tác trên những khoảnh khác trong vùng đất mà làng quản lý.
Cách làm này từng bị nhìn nhận phiến diện là "phá rừng". Nhiều nghiên cứu dân tộc học và sinh thái học sau này cho thấy khi dân số thấp và thời gian bỏ hoá đủ dài, luân khoảnh là một hệ canh tác thích nghi với đất dốc, đất nghèo và mùa mưa tập trung. Vấn đề chỉ trở nên gay gắt khi áp lực dân số và đất đai tăng, chu kỳ nghỉ bị rút ngắn.
Hiểu như vậy mới thấy vì sao nông cụ nương rẫy có hình dáng như hiện nay. Không có cày vì không lật đất, giữ lớp đất mặt mỏng khỏi bị mưa cuốn trôi trên sườn dốc. Không có gàu vì lúa rẫy sống nhờ nước mưa. Mọi thứ đều nhẹ, mang theo được, vì rẫy thường ở xa làng, có khi phải đi bộ nhiều giờ.
Ngày nay, phần lớn nương rẫy đã chuyển sang ruộng định canh, vườn cà phê, hồ tiêu, điều hay cây trồng khác. Nhưng bộ nông cụ cũ vẫn còn trong nhiều gia đình và vẫn được dùng ở những rẫy lúa, rẫy bắp còn giữ.
Phát rẫy: chà gạc, rìu và kinh nghiệm chọn đất
Chà gạc. Đây là con dao đặc trưng của nhiều dân tộc Tây Nguyên: lưỡi sắt cong hình móc ở đầu, gắn vào một cán dài, thường bằng gỗ hoặc tre. Người dùng vung chà gạc để phát bụi rậm, chặt cây nhỏ, mở lối. Cán dài giúp phát được xa mà không phải cúi, và lưỡi móc kéo được dây leo, cành con về phía mình.
Rìu. Rìu dùng chặt những cây lớn hơn. Trong lối luân khoảnh, người ta thường không chặt hết cây lớn mà chừa lại một số gốc, giúp rừng mọc lại nhanh hơn khi rẫy được bỏ nghỉ.
Chọn đất. Việc chọn khoảnh rẫy dựa vào kinh nghiệm truyền đời: nhìn màu đất, loài cây mọc trên đó, độ dốc, hướng nắng, nguồn nước gần. Người già trong làng thường là người có tiếng nói khi chọn đất, và việc chọn đất ở nhiều cộng đồng gắn với các nghi lễ riêng.
Đốt và dọn rẫy. Cây cỏ phát xong để khô vài tuần rồi đốt vào cuối mùa khô. Tro trở thành lớp phân bón cho vụ đầu. Người làm rẫy giữ lửa cẩn thận, đốt theo hướng gió, làm đường ranh để lửa không lan vào rừng.
Gieo hạt: gậy chọc lỗ và chiếc ống đựng giống
Đầu mùa mưa, cả nhà, có khi cả làng, ra rẫy tra hạt. Công cụ chính là chiếc gậy gỗ hoặc tre dài, đầu vót nhọn, có khi bịt thêm lưỡi sắt. Người đi trước cầm gậy chọc từng lỗ nông trên mặt đất đã đốt, theo hàng hay theo khoảng cách quen tay. Người đi sau bỏ vài hạt lúa vào mỗi lỗ rồi gạt đất lấp lại, có khi bằng chân.
Hạt giống được đựng trong ống tre, bầu khô hoặc giỏ nhỏ đeo bên hông, để người tra hạt vừa đi vừa bốc. Ở nhiều cộng đồng, nam giới thường cầm gậy chọc lỗ, nữ giới tra hạt, nhưng sự phân công này linh hoạt tuỳ gia đình và tuỳ dân tộc.
Cách gieo bằng gậy chọc lỗ có ưu điểm rõ: không xới tung lớp đất mặt, nên khi mưa lớn trên sườn dốc, đất ít bị cuốn trôi hơn so với cày lật. Hạt nằm trong lỗ sâu vừa đủ, tránh được chim và chuột phần nào. Ngày nay, nhiều nhà nông học quan tâm đến các hình thức canh tác ít làm đất, và gậy chọc lỗ là một trong những dạng cổ xưa nhất của lối làm ấy.
Trên cùng một rẫy, đồng bào thường trồng xen lúa với bắp, bí, dưa, đậu, rau. Các loại cây trổ và chín vào những thời điểm khác nhau, giúp gia đình có cái ăn rải rác suốt mùa, và mặt đất được che phủ nhiều hơn.
Làm cỏ, giữ rẫy và chòi canh
Lúa rẫy mọc cùng cỏ dại, nên làm cỏ là việc tốn công nhất trong mùa. Người làm rẫy dùng những chiếc cuốc nhỏ, dụng cụ nạo cỏ có lưỡi cong ngắn, ngồi xổm hoặc cúi người cạo cỏ quanh gốc lúa. Mỗi dân tộc có hình dáng lưỡi và cách gọi riêng, nhưng điểm chung là nhỏ, nhẹ, dùng một tay.
Khi lúa bắt đầu trổ, chim, chuột, heo rừng và các loài thú khác kéo đến. Nhiều gia đình dựng chòi canh trên rẫy, có khi ngủ lại suốt những tuần lúa sắp chín. Chòi thường dựng trên cột cao ở chỗ nhìn bao quát được cả khoảnh rẫy, mái lợp tranh hoặc lá, sàn tre đủ cho vài người nằm. Họ dùng những bộ phát tiếng kêu bằng ống tre, dây kéo nối tới chòi, mõ gỗ, hoặc bù nhìn để xua chim thú. Có nơi dựng những cột tre có ống nứa, gió thổi qua phát tiếng.
Chòi rẫy cũng là chỗ nghỉ trưa, nấu ăn, cất nông cụ. Cuộc sống quanh chòi rẫy trong mùa lúa là một phần quan trọng của ký ức nhiều người lớn tuổi ở Tây Nguyên.
Những dụng cụ xua chim thú bằng tre, nứa, gỗ cho thấy cách người làm rẫy tận dụng gió, dòng nước và dây kéo để bảo vệ mùa màng mà không cần có mặt liên tục ở mọi góc rẫy.
Thu hoạch: tuốt lúa bằng tay vào gùi
Khác với đồng bằng dùng liềm cắt cả thân, nhiều dân tộc Tây Nguyên thu hoạch lúa rẫy bằng cách tuốt bông bằng tay. Người tuốt nắm lấy bông lúa, vuốt dọc cho hạt rụng vào lòng bàn tay, rồi bỏ vào chiếc gùi đeo trước bụng hoặc sau lưng. Thân lúa để lại trên rẫy, mục dần thành chất hữu cơ cho đất. Người tuốt đi chậm qua từng khóm, vừa tuốt vừa nhặt cỏ, và nhiều gia đình cùng tuốt chung theo lối đổi công, rẫy nhà này xong lại sang rẫy nhà kia.
Tuốt tay chậm hơn gặt liềm, nhưng có lý do: lúa rẫy trên cùng một khoảnh thường chín không đều, tuốt tay cho phép lấy những bông đã chín và để lại những bông chưa chín cho lượt sau. Cách này cũng ít làm rơi hạt hơn khi lúa chín nẫu, và không cần mang dụng cụ sắt nào lên rẫy.
Lúa tuốt về được phơi trên những tấm phên tre, nia lớn, rồi đổ vào kho. Ở nhiều buôn làng, mùa thu hoạch kết thúc bằng lễ mừng lúa mới, một nghi lễ cộng đồng được tổ chức theo cách riêng của từng dân tộc, như một dịp tạ ơn và sum họp sau mùa rẫy.
Ở miền núi phía Bắc, người Thái, người Mông, người Dao làm lúa nương cũng có những lối thu hoạch riêng: có nơi cắt bông bằng dao nhỏ, có nơi cắt cả thân bằng liềm, tuỳ giống lúa và tập quán.
Nương ngô, nương lúa ở miền núi phía Bắc: một bộ đồ nghề khác nữa
Ở miền núi phía Bắc, bức tranh nông cụ lại khác Tây Nguyên. Trên những cao nguyên đá như vùng Đồng Văn, Mèo Vạc (nay thuộc Tuyên Quang, trước là Hà Giang), người Mông trồng ngô trong từng hốc đất giữa đá tai mèo. Không cày được, họ dùng cuốc nhỏ, gậy chọc lỗ và bàn tay để tra hạt vào từng hốc, có khi gùi đất từ chỗ khác đến đổ thêm vào hốc đá.
Ở những nương ít đá hơn và trên ruộng bậc thang, người Mông, người Dao, người Hà Nhì dùng chiếc cày nhỏ do bò hoặc ngựa kéo. Cày nhẹ để dễ vác lên dốc, bắp ngắn để quay đầu nhanh trên mặt ruộng hẹp. Ngựa thồ là phương tiện chở ngô, lúa từ nương về nhà trên những con đường mòn mà xe khó đi.
Người Thái, người Mường làm lúa nương bên cạnh ruộng nước ở thung lũng. Lúa nương được gieo bằng gậy chọc lỗ, thu hoạch bằng dao nhỏ hoặc liềm tuỳ nơi, gùi về bản rồi giã trong cối gỗ dưới gầm nhà sàn hoặc cối giã nước bên suối.
Chiếc gùi ở miền núi phía Bắc cũng có nhiều dáng: có loại đan dày đeo lưng của người Mông, có loại có dây đeo trán, có loại nhỏ để trẻ em tập mang. Dù hình dạng khác Tây Nguyên, chức năng giống nhau: một vật dụng mang được mọi thứ trên đường dốc, để hai tay rảnh bám vịn khi leo.
Gùi và kho lúa: mang và cất giữ
Chiếc gùi là vật dụng đa năng nhất của đồng bào vùng cao, còn kho lúa là nơi cất giữ thành quả cả mùa. Bảng dưới tóm tắt các loại phổ biến:
| Vật dụng | Đặc điểm | Việc dùng |
|---|---|---|
| Gùi đan thưa | Mắt nan to, nhẹ, dáng cao | Mang củi, bắp, bí, khoai từ rẫy về |
| Gùi đan dày | Mắt nan khít, có khi có nắp | Đựng lúa, hạt giống, đồ cần giữ khô |
| Gùi hoa văn | Đan cầu kỳ, phối nan nhuộm màu | Mang đi lễ hội, đi chợ, làm quà |
| Gùi nhỏ | Kích thước vừa với trẻ em | Trẻ tập mang đồ theo người lớn |
| Kho lúa | Nhà nhỏ dựng trên cột cao, có tấm chắn chuột ở chân cột | Cất lúa sau thu hoạch, thường đặt ở rìa làng hoặc gần rẫy |
Gùi được đeo bằng hai quai qua vai, có nơi thêm dây đeo qua trán, giúp phân bổ sức nặng khi leo dốc. Kho lúa dựng xa nhà ở để tránh cháy lan, và tấm chắn ở chân cột ngăn chuột leo lên, một lời giải đơn giản mà hiệu quả cho bài toán bảo quản lương thực.
Câu hỏi thường gặp
Chà gạc là gì?
Chà gạc là con dao có lưỡi sắt cong hình móc ở đầu, gắn vào cán dài, đặc trưng của nhiều dân tộc Tây Nguyên. Chà gạc dùng để phát bụi rậm, chặt cây nhỏ khi làm rẫy, mở lối đi rừng. Cán dài giúp phát xa mà không phải cúi, lưỡi móc kéo được dây leo về phía người dùng.
Vì sao làm rẫy không dùng cày?
Rẫy thường nằm trên đất dốc, lớp đất mặt mỏng. Cày lật đất sẽ làm đất tơi, gặp mưa lớn dễ bị cuốn trôi. Gieo bằng gậy chọc lỗ giữ nguyên mặt đất, lại nhẹ nhàng, không cần trâu bò kéo lên dốc. Lúa rẫy sống nhờ nước mưa nên cũng không cần làm đất ngập nước như ruộng.
Canh tác luân khoảnh khác với phá rừng ở điểm nào?
Luân khoảnh là phát một khoảnh, trồng vài vụ rồi để nghỉ cho rừng mọc lại, nhiều năm sau mới quay lại. Khi dân số thấp và thời gian nghỉ đủ dài, rừng có thể phục hồi. Khi áp lực đất đai tăng, thời gian nghỉ bị rút ngắn, hệ canh tác này mới gây suy thoái đất và rừng.
Vì sao đồng bào Tây Nguyên tuốt lúa bằng tay?
Lúa rẫy trên cùng một khoảnh thường chín không đều. Tuốt tay giúp lấy những bông đã chín, để lại bông chưa chín cho lượt sau, và ít làm rơi hạt. Thân lúa để lại trên rẫy cũng giúp trả chất hữu cơ cho đất. Đây là lựa chọn hợp với điều kiện canh tác của lúa rẫy.
Kho lúa của người Tây Nguyên có gì đặc biệt?
Kho lúa thường là một nhà nhỏ dựng trên cột cao, ở chân cột có tấm chắn hình tròn hoặc vuông để chuột không leo lên được. Kho thường đặt ở rìa làng hoặc gần rẫy, cách xa nhà ở để tránh cháy lan. Đây là lời giải đơn giản cho việc bảo quản lương thực.
Có thể xem gùi và nông cụ Tây Nguyên ở đâu?
Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam ở Hà Nội có trưng bày nhiều hiện vật của các dân tộc Tây Nguyên. Các bảo tàng tỉnh ở Tây Nguyên cũng có khu trưng bày riêng. Khi đến buôn làng, có thể hỏi các gia đình về gùi và nông cụ họ đang dùng, nhưng nên xin phép trước khi chụp ảnh.