Ở phần lớn đồng bằng ven biển miền Trung, một năm có hai vụ lúa chính: đông xuân gieo cấy khoảng tháng 12 – tháng 1, gặt tháng 4 – tháng 5; hè thu gieo khoảng tháng 5, gặt cuối tháng 8 – đầu tháng 9 dương lịch. Lịch ấy bị kẹp giữa hai mối lo: mùa hè có gió tây khô nóng, quen gọi là gió Lào, làm hạn và lép hạt; cuối năm là mùa mưa lũ dồn dập từ tháng 9 đến tháng 11, tháng 12.
Khác miền Bắc mưa nhiều vào mùa hè và Nam Bộ có lũ hiền, miền Trung có mùa mưa lệch về cuối năm và lũ lên rất nhanh trên những con sông ngắn, dốc. Vì vậy nông lịch miền Trung là nghệ thuật né: né nắng gió để lúa trổ, né lũ để kịp gặt. Bài này giải thích vì sao khí hậu như vậy và nhà nông đã xoay xở thế nào qua nhiều đời.
Vì sao miền Trung mưa vào cuối năm
Phần lớn Việt Nam nhận mưa nhiều nhất vào mùa hè, khi gió mùa tây nam thổi từ biển vào. Nhưng ở dải đồng bằng phía đông dãy Trường Sơn, gió tây nam phải vượt núi trước khi tới nơi. Khi leo lên sườn tây, không khí nguội đi, hơi nước ngưng tụ thành mưa ở phía Lào và Tây Nguyên; khi đổ xuống sườn đông, không khí đã khô lại nóng lên. Đó là hiệu ứng phơn, nguồn gốc của gió Lào.
Đến cuối năm, gió mùa đông bắc thổi từ biển vào, gặp dãy Trường Sơn chắn ngang thì bị đẩy lên cao, cộng thêm bão, áp thấp nhiệt đới và dải hội tụ nhiệt đới hoạt động mạnh trên Biển Đông. Kết quả là mùa mưa của miền Trung dồn vào khoảng tháng 9 đến tháng 12, có nơi chỉ trong ba tháng đã nhận phần lớn lượng mưa cả năm.
Mưa lớn trên những lưu vực ngắn, dốc từ núi xuống biển làm nước lên rất nhanh. Đồng bằng hẹp, có nơi chỉ vài chục cây số từ chân núi ra biển, lại bị các cồn cát ven biển chắn cửa thoát lũ. Vì thế lũ miền Trung đến trong vài giờ, rút trong vài ngày, nhưng sức tàn phá lớn hơn hẳn lũ đồng bằng sông Cửu Long.
Mùa mưa cũng lệch dần từ bắc vào nam: vùng Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh mưa nhiều từ khoảng tháng 8 – tháng 10; vùng Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi tập trung tháng 10 – tháng 11; vùng ven biển Gia Lai (Bình Định cũ), Đắk Lắk (Phú Yên cũ), Khánh Hoà mưa muộn hơn, kéo sang tháng 12. Lịch gieo cấy vì thế cũng lệch theo.
Một năm làm lúa ở đồng bằng Trung Trung Bộ
Khung dưới đây là phổ biến ở đồng bằng Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng (gồm Quảng Nam cũ), Quảng Ngãi; vùng Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ lệch sớm hoặc muộn hơn vài tuần.
| Thời gian (dương lịch) | Việc đồng | Thời tiết cần để ý |
|---|---|---|
| Tháng 12 – tháng 1 | Gieo cấy đông xuân sau khi lũ rút | Mưa còn rải rác, rét nhẹ ở phía bắc |
| Tháng 2 – tháng 3 | Chăm lúa đông xuân, làm cỏ | Nắng ấm dần, ít mưa |
| Tháng 4 – tháng 5 | Gặt đông xuân | Có năm gặp lũ tiểu mãn bất thường |
| Tháng 5 – tháng 6 | Làm đất, gieo sạ hè thu | Gió Lào bắt đầu, nắng gắt, thiếu nước |
| Tháng 7 – tháng 8 | Lúa hè thu làm đòng, trổ, chín | Gió Lào mạnh, hạn; bão sớm |
| Cuối tháng 8 – tháng 9 | Gặt hè thu cho kịp | Mưa bắt đầu, lũ sớm |
| Tháng 10 – tháng 11 | Đồng nghỉ, chống lụt, làm nghề phụ | Cao điểm mưa lũ, bão |
Đọc bảng sẽ thấy cả năm chỉ có khoảng tám tháng làm lúa an toàn, phần còn lại ruộng nhường cho nước. Nhiều vùng trũng ở Trung Bộ vì vậy không làm được vụ thứ ba, và chuyện "gặt chạy lũ" là ký ức chung của nhiều thế hệ.
Gió Lào và vụ hè thu
Gió Lào là gió tây, tây nam khô nóng, thổi mạnh nhất ở Nghệ An, Hà Tĩnh, vùng Quảng Bình cũ và Quảng Trị (nay chung tỉnh Quảng Trị), khoảng từ tháng 4 đến tháng 8, cao điểm tháng 5 – tháng 7. Trong những đợt gió mạnh, nhiệt độ ban ngày có thể vượt 38 – 40 độ C, độ ẩm xuống rất thấp, gió thổi cả đêm làm người và cây không kịp hồi lại.
Với cây lúa, gió Lào nguy hiểm nhất khi lúa trổ bông. Hạt phấn gặp nóng khô dễ mất sức sống, bông lúa không thụ phấn được, hạt lép nhiều; ruộng cạn nước nhanh vì bốc hơi mạnh. Vì vậy người làm ruộng ở vùng gió Lào tính toán để lúa hè thu trổ trước hoặc sau đợt gió mạnh nhất, và giữ nước trong ruộng lâu nhất có thể.
Nhà nông xưa còn có những cách thích nghi khác: trồng tre, phi lao làm hàng rào chắn gió quanh làng; mùa gió Lào chuyển sang những cây chịu hạn như vừng, lạc, khoai lang trên đất cát; làm việc đồng từ tờ mờ sáng, nghỉ trưa dài. Ở vùng cát ven biển Quảng Trị, nhiều làng sống bằng khoai, lạc nhiều hơn bằng lúa.
Đây cũng là lý do ở một số nơi Bắc Trung Bộ, vụ lúa mùa hè từng là vụ phụ, rủi ro cao, còn vụ chiêm xuân mới là vụ chính, giống như cách người miền Bắc gọi nhưng vì một nguyên nhân khác.
Những tục ngữ miền Trung về lũ: câu nào khớp với hiểu biết hôm nay
"Tháng bảy kiến bò, chỉ lo lại lụt". Tháng bảy âm lịch thường rơi vào tháng 8 – tháng 9 dương lịch, đúng lúc mùa mưa lũ bắt đầu ở Bắc Trung Bộ. Kiến di chuyển tổ lên cao khi độ ẩm không khí và đất tăng mạnh trước những đợt mưa lớn, nên quan sát ấy có cơ sở, dù không thay được dự báo khí tượng.
Lũ tiểu mãn. Đây không phải tục ngữ mà là tên dân gian, nay được cả ngành khí tượng thuỷ văn dùng, chỉ những trận lũ sớm vào khoảng tháng 5 – tháng 6, quanh tiết Tiểu mãn. Lũ tiểu mãn không năm nào cũng có, nhưng khi đến thì đe doạ đúng lúc gặt đông xuân, nên người miền Trung nhớ rất lâu.
"Lụt tháng mười". Nhiều làng ven sông Hương, sông Thu Bồn, sông Trà Khúc nói lụt lớn hay đến vào tháng mười âm lịch, tức tháng 11 dương lịch. Số liệu cho thấy đỉnh mưa của Trung Trung Bộ đúng là rơi vào tháng 10 – tháng 11, như trận lụt lớn đầu tháng 11 năm 1999 ở Huế và các tỉnh lân cận.
Câu nào nay ít đúng. Những câu đoán lũ dựa vào một ngày cố định trong năm không khớp với số liệu, vì lũ phụ thuộc bão và hoàn lưu khí quyển, mỗi năm một khác. Kinh nghiệm dân gian nên dùng để cảnh giác, còn quyết định sơ tán, gặt sớm thì theo bản tin chính thức.
Lũ cũng mang phù sa: mặt ít được kể
Nói về lũ miền Trung, người ta hay nhớ đến thiệt hại. Nhưng với đồng bằng hẹp, đất cát pha nghèo dinh dưỡng, lũ cũng là nguồn phù sa quan trọng. Những bãi bồi ven sông Thu Bồn, sông Trà Khúc, sông Côn sau mỗi mùa lũ lại có lớp đất mới, nơi người dân trồng ngô, đậu, dâu tằm, rau màu trong mùa khô.
Nhiều làng ven sông có tập quán trồng màu trên bãi bồi ngay sau lũ, tận dụng đất ẩm và tơi. Ở vùng Đà Nẵng (gồm Quảng Nam cũ), nghề trồng dâu nuôi tằm trên bãi bồi từng gắn với cả một vùng dệt lụa. Lịch của bãi bồi khác lịch của ruộng lúa: bắt đầu khi lũ rút, kết thúc trước khi lũ năm sau về.
Người lớn tuổi ở nhiều làng nói năm không có lũ thì năm sau đất bạc, ngô kém. Câu ấy khớp với hiểu biết về vai trò của phù sa, dù mức độ cụ thể tuỳ từng con sông. Đây là một mặt của "sống chung với lũ" ở miền Trung, ít được nhắc hơn so với miền Tây nhưng có thật.
Mùa lũ còn là mùa của nghề phụ. Những tháng đồng ngập, nhà nông miền Trung đan lát, dệt chiếu, làm nón, đóng thuyền, đánh cá đầm phá. Các làng nghề ven đầm Tam Giang, đầm Cầu Hai ở Huế, ven phá ở Quảng Trị có nhịp làm ăn mùa lũ riêng, nơi cá tôm đầm phá trở thành nguồn sống khi ruộng nghỉ.
Bắc Trung Bộ: nơi hai lịch gặp nhau
Vùng Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh nằm ở chỗ giao giữa nông lịch miền Bắc và nông lịch miền Trung. Mùa đông vẫn có gió mùa đông bắc và rét, nên người xưa cũng cấy vụ chiêm, gieo mạ trong rét như đồng bằng sông Hồng. Nhưng mùa hè lại có gió Lào, và mưa lũ đến sớm hơn Trung Trung Bộ, nhiều năm đã dồn dập từ tháng 9.
Hệ quả là lịch hai vụ ở đây luôn căng: vụ chiêm xuân phải cấy sau rét đậm nhưng gặt trước nắng gắt và lũ tiểu mãn; vụ mùa hay vụ hè thu phải trổ tránh đợt gió Lào mạnh nhất và gặt trước lũ tháng 9. Khoảng an toàn cho mỗi vụ ngắn hơn nhiều so với đồng bằng sông Hồng, nên giống ngắn ngày được đón nhận sớm ở vùng này.
Đồng bằng xứ Thanh, xứ Nghệ lại rộng hơn các đồng bằng phía nam, có hệ thống sông Mã, sông Chu, sông Cả với lũ lớn hơn và đê điều lâu đời. Kinh nghiệm đắp đê, giữ đê ở đây có nhiều điểm giống Bắc Bộ, trong khi kinh nghiệm chống gió Lào, trồng cây trên cát thì giống Quảng Trị.
Người nghiên cứu nông lịch hay coi Bắc Trung Bộ là vùng chuyển tiếp: nhiều câu tục ngữ miền Bắc vẫn dùng được ở đây, nhưng phải cộng thêm những câu riêng về gió Lào và lũ sớm. Đọc lịch mùa của một làng xứ Nghệ là đọc một bản lịch lai, nơi nhà nông phải để mắt đến cả rét, cả nắng, cả nước.
Nam Trung Bộ: mùa khô dài và chuyện giữ nước
Càng vào nam, mùa khô càng dài và gay gắt. Vùng Ninh Thuận cũ (nay thuộc Khánh Hoà) và một phần Bình Thuận cũ (nay thuộc Lâm Đồng) thuộc nhóm nơi ít mưa nhất Việt Nam, có năm mưa chỉ tập trung trong vài tháng cuối năm, phần còn lại nắng gió liên tục.
Ở đây, nông lịch xoay quanh nước nhiều hơn quanh nhiệt độ. Người Chăm ở vùng này có truyền thống thuỷ lợi lâu đời với đập dâng, mương dẫn nước từ sông suối về ruộng, và nhiều công trình được dân gian truyền tụng qua các thế kỷ. Lịch cấy lúa phụ thuộc vào lúc mương có nước; khi nước không đủ, ruộng chuyển sang trồng cây chịu hạn như nho, táo, hành tỏi, hoặc chăn dê cừu trên đồng cỏ khô.
Lễ hội của người Chăm như Katê, Ramưwan có thời điểm theo lịch Chăm, đan cài với nhịp mùa vụ địa phương. Nói về lịch mùa miền Trung vì thế không thể chỉ nói về lúa và lũ, mà phải thấy một dải nông lịch đa dạng từ Thanh Hoá đến Khánh Hoà, mỗi đoạn một khí hậu, một tập quán.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao miền Trung ít làm được ba vụ lúa như Nam Bộ?
Vì mùa mưa lũ tập trung từ tháng 9 đến tháng 12, rơi đúng khoảng thời gian của vụ thứ ba. Lũ miền Trung lên nhanh và mạnh, đê bao khó giữ như ở đồng bằng sông Cửu Long, nên phần lớn đồng bằng chỉ làm hai vụ và để ruộng nghỉ trong mùa lũ.
Gió Lào có phải gió từ nước Lào thổi sang không?
Gió thổi theo hướng từ phía Lào sang, nhưng nguồn gốc là gió mùa tây nam từ vịnh Bengal. Khi vượt dãy Trường Sơn, gió mất hơi nước ở sườn tây rồi nóng lên khi đổ xuống sườn đông. Tên gọi dân gian chỉ hướng gió, không có nghĩa nước Lào tạo ra gió nóng.
Lũ tiểu mãn năm nào cũng có không?
Không. Lũ tiểu mãn chỉ xảy ra một số năm, khi có những đợt mưa lớn sớm vào khoảng tháng 5 – tháng 6. Khi có, nó thường nhỏ hơn lũ chính vụ nhưng nguy hiểm cho lúa đông xuân sắp gặt và lúa hè thu mới gieo.
Kinh nghiệm "tháng bảy kiến bò" có dùng được để phòng lũ không?
Có thể dùng như một tín hiệu nhắc cảnh giác, vì kiến nhạy với độ ẩm tăng trước mưa lớn. Nhưng nó không cho biết lũ lớn đến đâu và khi nào. Quyết định sơ tán, gặt sớm cần dựa vào bản tin dự báo của cơ quan khí tượng thuỷ văn và hướng dẫn của chính quyền địa phương.
Ngày nay lịch mùa vụ miền Trung có thay đổi không?
Có. Giống lúa ngắn ngày giúp gặt hè thu sớm hơn trước lũ; hồ chứa, kênh mương giảm hạn mùa gió Lào. Tuy vậy, mưa lớn cực đoan và hạn hán kéo dài vẫn buộc nhiều địa phương điều chỉnh lịch xuống giống theo từng năm.