Miền Bắc quen dùng trâu vì ruộng lúa nước Bắc Bộ là đất thịt nặng, ngập sâu, bùn dẻo, nơi trâu với móng to và sức kéo lớn làm tốt hơn bò. Miền Trung nhiều đất cát pha, nắng gió, ruộng nông, nên bò nhẹ, nhanh, chịu nóng tốt hơn trâu là lựa chọn hợp lý. Nam Bộ dùng cả hai: trâu cho ruộng sâu, đất phèn mềm; bò cho đất giồng, cho việc kéo xe chở lúa, chở hàng.
Đây không phải ranh giới tuyệt đối. Làng nào ở Bắc Bộ cũng có nhà nuôi bò, và nhiều vùng miền Trung vẫn cày trâu ở ruộng trũng. Nhưng xu hướng chung đủ rõ để thấy con vật kéo được chọn theo đất, nước và khí hậu, chứ không theo sở thích. Bài dưới đây so sánh trâu và bò như hai loại sức kéo, rồi đi qua từng vùng, cùng những thứ đi kèm như cái cày, cái ách, chiếc xe bò.
Trâu và bò khác nhau thế nào khi kéo cày
So sánh dưới đây dựa trên đặc điểm chung của trâu đầm lầy và bò vàng nội, hai loại sức kéo chính của nông nghiệp Việt Nam xưa. Từng con cụ thể có thể khác.
| Đặc điểm | Trâu | Bò |
|---|---|---|
| Tầm vóc | To, nặng, ngực rộng | Nhỏ hơn, gọn, chân cao |
| Móng | To, xoè rộng, đi tốt trong bùn sâu | Nhỏ, cứng, đi tốt trên đất khô, đất cát |
| Tốc độ | Chậm, đều, bền | Nhanh hơn, linh hoạt hơn |
| Chịu nóng | Kém, phải đằm nước khi nắng | Khá, chịu nắng gió tốt hơn |
| Chịu rét | Kém, dễ chết rét khi gầy | Khá hơn trâu |
| Đất hợp | Ruộng nước, đất thịt nặng, bùn lầy | Đất cát pha, đất giồng, ruộng nông, đồi |
| Việc phụ | Kéo gỗ, kéo che ép mía, quay cối | Kéo xe chở lúa, chở hàng đường dài |
Nhìn bảng có thể thấy mỗi con mạnh ở một kiểu đất. Người nông dân xưa không có bảng so sánh này trên giấy, nhưng qua hàng trăm năm thử, mỗi vùng đã chọn ra con vật hợp với đồng ruộng của mình.
Đồng bằng Bắc Bộ: ruộng sâu, đất nặng, con trâu
Đồng bằng sông Hồng được bồi bằng phù sa mịn, nhiều sét. Ruộng trũng cấy chiêm ngập nước gần như quanh năm; đất khi ướt thì dẻo, khi khô thì nứt thành tảng. Một con bò nhỏ sa vào ruộng chiêm sâu thì lún chân, kéo không nổi, còn trâu lội bùn ngang bụng vẫn đi đều.
Cái cày quen thuộc ở Bắc Bộ là cày chìa vôi, làm bằng gỗ với lưỡi sắt, bắp cày cong, kéo bằng một con trâu. Người cày một tay giữ chuôi, một tay cầm roi hay thừng, ra lệnh bằng tiếng. Mỗi vùng một bộ tiếng lệnh riêng, như "vắt", "diệt" ở nhiều làng Bắc Bộ để bảo trâu rẽ, trâu đã thuần thì nghe tiếng là đi đúng luống.
Ngoài ruộng, khí hậu Bắc Bộ có mùa hè nóng ẩm nhưng nhiều ao hồ, mương máng, nên trâu luôn có chỗ đằm. Chỉ có mùa đông rét là điểm yếu, và nhà nông bù lại bằng chuồng kín, rơm khô, đống un.
Bò ở Bắc Bộ vẫn có, thường là bò vàng nhỏ dùng kéo xe, cày ruộng cao, đất bãi ven sông trồng màu. Nhưng khi nói đến vụ chiêm, vụ mùa, sức kéo chính của làng là trâu, và đó là lý do kho tục ngữ Bắc Bộ nói nhiều về trâu hơn về bò.
Miền Trung: đất cát, nắng gió, con bò
Dải đất miền Trung hẹp, sông ngắn, đồng bằng nhỏ kẹp giữa núi và biển. Nhiều vùng ven biển là đất cát pha, cồn cát, ruộng nông, mùa khô nắng gắt kèm gió Tây khô nóng. Trong điều kiện ấy, trâu khó tìm chỗ đằm, dễ mệt vì nóng, còn bò chịu nắng tốt hơn, đi nhanh trên đất cát.
Vì thế ở nhiều làng từ Thanh Hoá, Nghệ An vào đến Quảng Ngãi, Gia Lai (vùng Bình Định cũ), Khánh Hoà, bò là sức kéo phổ biến bên cạnh trâu. Ruộng trũng ven sông vẫn cày trâu, nhưng đất cát, đất màu trên cồn, đất đồi thấp thì cày bò. Có nơi dùng cặp hai con bò kéo một cày để bù sức.
Miền Trung cũng là vùng của xe bò. Chiếc xe hai bánh gỗ lớn, thùng thấp, do một hay hai con bò kéo, chở lúa từ đồng về, chở củi, chở muối, chở hàng ra chợ. Bánh xe to giúp xe lăn trên cát mà không lún. Ở vùng người Chăm tại Khánh Hoà (Ninh Thuận cũ) và Lâm Đồng (Bình Thuận cũ), xe bò kéo từng là phương tiện chở hàng gắn với đời sống làng, nay vẫn còn được giữ ở một số làng và xuất hiện trong các hoạt động du lịch văn hoá.
Ở Bắc Trung Bộ, nhiều vùng làm mía đường thủ công từng dùng trâu hoặc bò kéo che ép mía, quay vòng quanh trục gỗ. Đây là ví dụ cho thấy sức kéo gia súc không chỉ dùng cho ruộng.
Nam Bộ: ruộng sâu cày trâu, đường giồng kéo xe bò
Khi người Việt vào khai khẩn Nam Bộ, họ gặp những cánh đồng mênh mông, đất phèn mềm, mùa nước nổi ngập sâu, xen với những giồng đất cát cao chạy dọc sông, dọc biển cũ. Hai kiểu đất ấy dẫn đến hai kiểu sức kéo.
Ở ruộng sâu, đất phèn, trâu là con vật chính. Trâu Nam Bộ thường to con, và ở nhiều nơi người ta thắng cặp hai con trâu vào một cày để xới những thửa ruộng lớn. Thời đầu khẩn hoang, có những vùng đất quá lầy mà cày cũng không vào được, người ta dùng phảng phát cỏ rồi cấy thẳng, gọi là làm ruộng không cày.
Trên giồng đất, đường làng, xe bò là phương tiện chở lúa, chở trái cây, chở người đi chợ. Ở vùng đồng bào Khmer tại An Giang, Cần Thơ (Sóc Trăng cũ), Vĩnh Long (Trà Vinh cũ), con bò gắn bó với ruộng và chùa làng; hội đua bò Bảy Núi ở An Giang vào dịp lễ Sene Dolta là dấu ấn văn hoá nổi tiếng của mối gắn bó ấy.
Cái cày, cái bừa Nam Bộ cũng có hình dáng riêng, thường to và chắc hơn để hợp ruộng rộng, sức kéo đôi. Các bảo tàng địa phương và một số nhà trưng bày nông cụ còn giữ những chiếc cày, chiếc ách có thể so với cày chìa vôi Bắc Bộ để thấy sự khác nhau.
Vùng cao và Tây Nguyên: sức kéo theo cách khác
Ở miền núi phía Bắc, sức kéo đi theo kiểu ruộng. Trên ruộng bậc thang ở Lào Cai, Sơn La, Lai Châu, Tuyên Quang (gồm cả vùng Hà Giang cũ), trâu là con vật cày chính vì ruộng giữ nước, đất bùn, giống ruộng đồng bằng thu nhỏ. Trên nương ngô núi đá ở vùng cao nguyên đá, nhiều gia đình người Mông dùng bò, vì bò leo dốc, đi trên đá giỏi hơn trâu và chịu được cái lạnh vùng cao. Cày trên nương đá là việc khéo: đường cày phải lách giữa các hốc đá, có chỗ phải bỏ cày, dùng cuốc.
Ở Tây Nguyên, cách làm nương rẫy truyền thống của nhiều dân tộc như Ê Đê, Ba Na, Gia Rai, M’nông không dùng cày mà dùng gậy chọc lỗ tra hạt, nên trâu bò không phải là sức kéo của nương. Con trâu ở đây gắn với tài sản gia đình và với các nghi lễ cộng đồng nhiều hơn với việc làm đất. Khi ruộng nước và cày xuất hiện rộng hơn ở các thung lũng Tây Nguyên trong thế kỷ 20, trâu bò mới được dùng kéo cày ở nhiều buôn làng.
Những khác biệt này cho thấy không có một mô hình "nhà nông Việt" duy nhất. Mỗi cộng đồng chọn sức kéo, chọn công cụ theo đất của mình, và điều đó cần được kể đúng, không xếp cách làm nào cao hay thấp hơn cách làm nào.
Những thứ đi kèm con vật kéo
Cái ách. Thanh gỗ cong đặt lên cổ trâu bò, nối với bắp cày hay càng xe. Ách cho trâu khác ách cho bò vì cổ và u vai hai con khác nhau. Ách phải vừa, không cấn, nếu không con vật bị trầy cổ sau vài ngày cày.
Thừng mũi, dàm. Trâu bò kéo được xỏ mũi từ khi còn nhỏ, luồn thừng để người điều khiển. Việc xỏ mũi là một mốc trong đời con nghé, đánh dấu lúc nó bắt đầu được tập làm việc.
Mõ, chuông đeo cổ. Nhiều nơi đeo mõ gỗ, chuông nhỏ cho trâu bò để nghe tiếng mà tìm khi thả ở bãi xa, đồi rậm. Ở vùng cao, tiếng mõ trâu là âm thanh quen của buổi chiều.
Tiếng lệnh. Mỗi vùng, mỗi nhà có tiếng gọi, tiếng lệnh riêng để bảo con vật đi, dừng, rẽ, lùi. Trâu bò đã quen tiếng chủ thì người lạ ra lệnh nó có khi không nghe. Kho tiếng lệnh này đang mất dần cùng với sức kéo gia súc.
Nghề phụ quanh sức kéo. Thợ đóng cày, đẽo ách, đóng bánh xe bò, thợ rèn lưỡi cày là những nghề phụ của làng nông nghiệp, nay phần lớn đã thưa thợ.
Khi máy thay cả trâu lẫn bò
Từ cuối thế kỷ 20, máy cày tay, máy làm đất rồi máy gặt đập liên hợp lần lượt về các vùng đồng bằng. Ở Nam Bộ, nơi ruộng rộng, thẳng, cơ giới hoá đi nhanh hơn; ở Bắc Bộ, ruộng nhỏ manh mún nên máy nhỏ chiếm ưu thế. Cả trâu lẫn bò đều chuyển dần từ sức kéo sang nuôi lấy thịt, và sự khác nhau giữa vùng trâu, vùng bò cũng mờ đi trên đồng ruộng.
Ở miền núi phía Bắc, trâu vẫn kéo cày trên ruộng bậc thang; ở một số vùng Tây Nguyên và miền Trung, bò vẫn kéo xe trên đường đất. Đó là những nơi còn giữ được cảnh cũ, cũng là nơi các nhà nghiên cứu, người làm phim tài liệu tìm đến khi muốn ghi lại sức kéo gia súc.
Có một điểm thú vị: khi máy cày tay đầu tiên về làng, nhiều nơi gọi nó là "con trâu sắt". Cái tên cho thấy người nông dân hiểu chiếc máy qua con vật mình đã quen, đánh giá nó bằng câu hỏi cũ: kéo có khoẻ không, lội ruộng sâu có lún không, có bền không. Ở vùng bò, người ta cũng so chiếc xe công nông với chiếc xe bò về sức chở và độ bền trên đường cát. Thói quen so sánh ấy là dấu vết của hàng trăm năm sống với sức kéo gia súc.
Hiểu vì sao mỗi vùng chọn một con vật giúp đọc lại tục ngữ, tranh dân gian và ký ức của ông bà đúng hơn: một người miền Trung nói về chiếc xe bò với tình cảm như người miền Bắc nói về con trâu, vì đó là bạn làm ăn của chính vùng đất họ.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao bò không cày được ruộng chiêm Bắc Bộ?
Bò vẫn có thể cày ruộng nông, nhưng ruộng chiêm Bắc Bộ ngập sâu, bùn dẻo, bò với móng nhỏ dễ lún và nhanh kiệt sức. Trâu có móng xoè rộng, chân khoẻ, quen bùn nên làm được việc này bền hơn. Vì vậy với ruộng trũng, nhà nông Bắc Bộ gần như luôn dùng trâu.
Miền Trung có cày trâu không?
Có. Ở các ruộng trũng ven sông, ruộng lúa nước sâu của miền Trung, trâu vẫn là sức kéo chính. Bò phổ biến hơn ở đất cát pha, cồn cát, ruộng nông, đất đồi thấp và trong việc kéo xe. Thực tế nhiều làng nuôi cả hai và dùng tuỳ thửa ruộng.
Xe bò kéo ở Nam Bộ còn không?
Ở đồng bằng sông Cửu Long, xe bò gần như đã nhường chỗ cho xe máy, xe tải nhỏ và ghe. Một số vùng đồng bào Khmer và các làng ở Đông Nam Bộ, Nam Trung Bộ vẫn còn xe bò, dùng trong sinh hoạt hoặc giữ lại cho du lịch và lễ hội.
Hội đua bò Bảy Núi có phải là đua bò kéo xe không?
Không hẳn. Ở hội đua bò Bảy Núi, mỗi đội gồm một cặp bò kéo một chiếc bừa có người đứng điều khiển, chạy trên thửa ruộng ngập nước. Hình thức này gắn trực tiếp với việc làm đất, khác với đua xe bò trên đường. Lễ hội có bài riêng ở mục lễ hội nông nghiệp.
Cày một trâu và cày hai trâu khác nhau ra sao?
Cày một trâu nhẹ, xoay trở dễ, hợp ruộng nhỏ, thửa hẹp như ở Bắc Bộ. Cày hai trâu hoặc hai bò khoẻ hơn, xới được thửa rộng, đất cứng, nhưng cần ruộng đủ lớn để quay đầu và người điều khiển có kinh nghiệm. Nam Bộ với ruộng rộng dùng sức kéo đôi nhiều hơn.
Có nơi nào trưng bày cày, ách, xe bò xưa?
Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam ở Hà Nội và nhiều bảo tàng tỉnh có trưng bày nông cụ, trong đó có cày, bừa, ách. Một số làng du lịch nông thôn cũng giữ xe bò, cày gỗ để khách xem. Nên hỏi trước nơi mình định đến xem hiện vật nào đang trưng bày.