Chợ phiên ở làng quê xưa là chợ không họp mỗi ngày mà họp theo phiên cố định, thường tính theo ngày âm lịch; các chợ gần nhau trong một vùng lệch phiên để người buôn và người mua có thể đi vòng từ chợ này sang chợ khác trong tuần. Chợ bám theo nhịp mùa vụ: mùa gặt đông hàng thóc gạo, mùa giáp hạt thưa hàng, cuối năm đầy hàng Tết.
Chợ làng không chỉ để mua bán. Đó là nơi đổi tin tức, gặp họ hàng làng bên, xem mặt người định hỏi vợ, và là nơi phụ nữ nông thôn làm kinh tế. Bài này kể chợ phiên xưa họp thế nào, bán gì theo mùa, đo đếm ra sao và còn lại gì đến hôm nay.
Chợ phiên là gì và vì sao không họp mỗi ngày
Ở đồng bằng Bắc Bộ xưa, mỗi làng hoặc mỗi cụm vài làng có một chợ, nhưng chợ chỉ họp vào những ngày nhất định. Cách chia phổ biến là theo chu kỳ năm ngày: một chợ họp vào các ngày có số cuối giống nhau, ví dụ mồng 2, 7, 12, 17, 22, 27 âm lịch; chợ bên cạnh họp ngày 3, 8, 13, 18... Có nơi chia chu kỳ khác, có chợ họp sáu phiên một tháng, có chợ chỉ họp vài phiên.
Lý do không họp hằng ngày khá thực tế. Một làng nhỏ không đủ người mua bán để chợ đông mỗi ngày. Người bán là chính nông dân, chỉ rảnh để ra chợ vài ngày một lần. Người buôn chuyên thì cần di chuyển giữa nhiều chợ để bán đủ hàng. Lệch phiên giữa các chợ gần nhau giúp mỗi chợ có đủ người vào ngày của nó, và người buôn có lịch đi vòng quanh vùng.
Ở vùng cao phía Bắc, nhiều chợ phiên trước kia họp theo chu kỳ ngày riêng, có nơi tính theo ngày con giáp nên phiên chợ lùi dần theo tuần dương lịch, người địa phương gọi là chợ lùi. Nay nhiều chợ vùng cao đã chuyển sang họp cố định vào ngày cuối tuần cho thuận khách, nhưng vẫn còn những chợ giữ lịch cũ.
Chợ làng nằm ở đâu và họp vào giờ nào
Chợ làng xưa thường đặt ở chỗ thuận đường nhất: đầu làng, ngã ba đường, bến sông, gần đình hay dưới gốc đa lớn. Chợ bến sông đặc biệt quan trọng vì hàng hoá nặng như thóc, muối, nồi đất, gỗ chủ yếu đi bằng thuyền. Nhiều chợ chỉ là một bãi đất trống, có vài dãy lều tranh hay quán lợp lá; ngoài ngày phiên, chợ vắng tanh, chỉ còn quán nước.
Chợ quê phần lớn họp buổi sáng, từ tinh mơ đến khoảng trưa. Người bán đi từ khi trời còn tối để kịp bày hàng, người mua đi sớm để chọn hàng tươi rồi về kịp làm việc nhà, việc đồng. Có chợ họp chiều cho những người bận buổi sáng, có chợ đêm ở một số vùng ven sông hay ven biển gắn với giờ thuyền về.
Trong chợ, hàng được xếp theo khu: khu thóc gạo, khu rau, khu cá thịt, khu đồ đan, khu nồi niêu, khu vải. Người làng nào thường ngồi một góc quen. Cách sắp xếp ấy được duy trì qua nhiều năm mà không cần ai phân lô, chỉ bằng tập quán, và ai mới đến phải hỏi người cũ trước khi ngồi.
Chợ bán gì theo mùa: một năm qua các phiên chợ quê Bắc Bộ
Hàng hoá ở chợ quê thay đổi theo mùa vụ. Bảng dưới là bức tranh chung ở đồng bằng Bắc Bộ, tháng theo âm lịch; từng chợ mỗi khác tuỳ nghề của vùng.
| Quãng tháng | Hàng nhiều | Hàng ít | Không khí chợ |
|---|---|---|---|
| Tháng Giêng | Đồ lễ, bánh trái còn lại, cây giống, hạt giống màu | Thóc gạo bán ra | Chợ đầu năm, người đi chợ cho vui, gặp nhau |
| Tháng Hai – tháng Ba | Rau dại, cua ốc, khoai sắn, đồ đan | Thóc gạo | Giáp hạt, chợ thưa, giá gạo nhích lên |
| Tháng Tư – tháng Năm | Nông cụ, liềm, thúng, nong nia, quạt | Hàng xa | Chuẩn bị gặt, người mua đồ dùng cho vụ |
| Tháng Sáu – tháng Tám | Thóc chiêm, cá đồng, rau muống, cà | Hàng khô | Sau gặt chiêm, chợ đông trở lại |
| Tháng Chín – tháng Mười | Thóc mùa, gạo mới, cốm, trâu bò | Rau | Chợ đông nhất, bán thóc trả nợ, mua sắm |
| Tháng Một – tháng Chạp | Hàng Tết: lá dong, gạo nếp, thịt, hoa, câu đối giấy, nồi niêu, vải | Hàng đồng | Chợ Tết, phiên cuối năm đông nhất năm |
Nhìn theo bảng, chợ là thước đo chính xác nhất về tình trạng no đói của làng. Người già thường nói chỉ cần đi một phiên chợ là biết năm ấy được mùa hay mất mùa.
Ai đi chợ và đi chợ để làm gì
Phụ nữ là người đi chợ chính. Trong gia đình nông thôn xưa, phụ nữ giữ việc mua bán. Họ mang sản phẩm của nhà ra chợ bán, rồi mua lại thứ cần dùng. Gánh hàng trên vai, đi bộ vài cây số đến chợ là chuyện thường.
Người buôn chuyến, buôn thúng bán mẹt. Bên cạnh nông dân bán hàng nhà có, có những người buôn nhỏ chuyên mua ở chợ này bán ở chợ khác, ăn chênh lệch nhỏ. Họ là mạch nối hàng hoá giữa các vùng.
Thợ thủ công bán hàng làng nghề. Làng đan mang rổ rá, làng gốm mang nồi niêu, làng rèn mang dao liềm đến các chợ phiên xung quanh. Mỗi làng nghề có một vòng chợ quen của mình.
Người đi chợ để gặp người. Không ít người đi chợ chỉ để gặp họ hàng ở làng khác, nghe tin tức, hỏi chuyện mùa màng. Chợ là kênh thông tin quan trọng nhất của làng xưa.
Thanh niên đi chợ để xem mặt nhau. Ở nhiều vùng, chợ phiên là dịp trai gái các làng gặp nhau. Ở vùng cao, chợ phiên cũng là nơi thanh niên hẹn hò, trò chuyện, nhiều mối duyên bắt đầu từ đó.
Cân đong đo đếm ở chợ xưa
Chợ xưa dùng những đơn vị đo lường của dân gian, khác nhau giữa các vùng. Thóc gạo đong bằng đấu, thưng, bơ, ống bơ, bát; vải đo bằng thước, bằng sải tay; đồ lớn tính theo chiếc, theo đôi. Kích thước một chiếc đấu hay một chiếc thưng không hoàn toàn thống nhất giữa các chợ, nên người mua quen thường mang theo đồ đong của mình hoặc chọn người bán quen.
Cân đòn với quả cân treo trên thanh gỗ được dùng để cân thịt, cá, những thứ bán theo trọng lượng. Người bán giỏi cân đòn đọc nhanh vạch trên đòn; người mua kỹ tính hay đỡ đòn xem có cân thiếu không. Chuyện cân thiếu, đong vơi là đề tài quen trong ca dao, truyện cười dân gian về chợ.
Mặc cả là phần không thể thiếu. Người bán nói giá cao hơn mức muốn bán, người mua trả thấp hơn, hai bên gặp nhau ở giữa. Cách mặc cả cũng có phép: không chê hàng quá đáng, không trả giá rồi bỏ đi khi người bán đã đồng ý. Với người quen, việc mặc cả nhẹ nhàng hơn và có khi bán chịu, ghi nợ đến phiên sau hoặc đến mùa gặt.
Chợ nổi và chợ bến ở miền Tây: một kiểu chợ phiên trên sông
Ở đồng bằng sông Cửu Long, kênh rạch là đường đi chính, nên chợ hình thành ngay trên sông. Ghe, xuồng chở nông sản tụ lại ở những khúc sông rộng, ngã ba sông, mua bán từ ghe sang ghe từ tinh mơ. Chợ nổi Cái Răng (Cần Thơ) và nhiều chợ nổi khác ở miền Tây là những ví dụ còn hoạt động, dù quy mô đã nhỏ đi so với trước.
Một nét độc đáo của chợ nổi là cây bẹo: người bán treo mẫu hàng mình có lên một cây sào cao dựng trên ghe, để người mua từ xa nhìn thấy ghe nào bán khoai, ghe nào bán bí, ghe nào bán thơm. Đó là cách quảng cáo không cần lời, rất hợp với một khúc sông đông ghe.
Chợ nổi cũng theo mùa: mùa nước nổi nhiều cá linh, bông điên điển; mùa trái cây đầy xoài, chôm chôm, sầu riêng từ các miệt vườn; cuối năm là ghe chở hoa, dưa hấu về các chợ Tết. Cách người miền Tây buôn bán trên sông cho thấy chợ quê Việt không có một khuôn chung, mà mỗi vùng tạo ra chợ hợp với địa hình và đường đi của mình.
Phiên chợ Tết: phiên đông nhất và đặc biệt nhất trong năm
Trong mọi phiên chợ của năm, phiên chợ cuối tháng Chạp được chờ đợi nhất. Người làng đi chợ Tết không chỉ để mua lá dong, gạo nếp, thịt, hoa, mà để "đi cho biết Tết". Nhiều chợ quê họp thêm phiên vào những ngày cuối năm, có chợ họp liên tục mấy ngày trước Tết. Phiên cuối cùng, thường gọi là chợ ba mươi hay chợ cuối năm, tan rất muộn hoặc rất sớm tuỳ nơi.
Hàng chợ Tết cũng mang dấu nông nghiệp rõ rệt: gạo nếp mới của vụ mùa, đậu xanh, lá dong từ vùng đồi, gà vịt nuôi cả năm, cây quất, cành đào, câu đối, tranh dân gian. Người bán đem ra những thứ dành dụm suốt năm để đổi lấy tiền sắm Tết; người mua tính từng đồng cho đủ mâm cỗ.
Ở nhiều làng có tục đi chợ đầu năm vào phiên đầu tiên sau Tết, mua một món nhỏ cho có, không mặc cả. Đó là lúc chợ chủ yếu để gặp nhau và chúc nhau, hơn là để mua bán. Chợ Tết vì thế là điểm nối giữa năm cũ và năm mới của làng, và là ký ức sống động nhất mà người đi xa nhớ về chợ quê.
Chợ phiên hôm nay: còn gì của chợ quê xưa
Đường sá tốt hơn, cửa hàng tạp hoá mở ở từng xóm, chợ nhiều nơi đã họp hằng ngày và được xây kiên cố. Chợ phiên theo ngày âm lịch không còn phổ biến ở đồng bằng như trước, nhưng vẫn còn ở nhiều vùng nông thôn và đặc biệt ở vùng cao, nơi chợ phiên vẫn là sự kiện của cả tuần.
Những gì còn lại của chợ quê xưa thường nằm ở chi tiết: một góc chợ bán đồ đan, một bà cụ ngồi bán rau dại, phiên chợ cuối năm đông nghịt người, chợ quê họp dưới gốc đa sáng sớm. Người làm du lịch nông thôn hay giáo viên đưa học sinh đi trải nghiệm có thể dùng chợ quê như một lớp học sống về mùa vụ, sản vật và cách người làng trao đổi với nhau.
Khi đi chợ phiên vùng cao hay chợ quê với tư cách khách, nên hỏi trước khi chụp ảnh người bán, mua thứ mình thật sự cần, không mặc cả quá đáng với người bán nhỏ. Chợ là nơi sinh sống của người địa phương trước khi là điểm tham quan, và cách khách cư xử quyết định chợ còn giữ được nét riêng hay không.
Câu hỏi thường gặp
Chợ phiên khác chợ thường ở điểm nào?
Chợ phiên chỉ họp vào những ngày nhất định theo chu kỳ, thường tính theo âm lịch hoặc theo tuần, còn chợ thường họp hằng ngày. Vì chỉ họp theo phiên nên ngày chợ phiên thường đông hơn, người từ nhiều làng đổ về, hàng hoá đa dạng hơn và chợ có không khí như một ngày hội nhỏ.
Vì sao các chợ gần nhau lại họp lệch ngày?
Để mỗi chợ có đủ người mua bán vào ngày của nó, và để người buôn có thể đi vòng từ chợ này sang chợ khác trong chu kỳ. Nếu các chợ gần nhau họp cùng ngày, người mua bị chia ra, người buôn chỉ đến được một chợ. Lệch phiên là cách phân bổ tự nhiên của vùng.
Chợ lùi là gì?
Chợ lùi là cách gọi những chợ phiên ở vùng cao phía Bắc họp theo chu kỳ ngày riêng, có nơi tính theo ngày con giáp, nên nếu nhìn theo lịch tuần dương lịch thì ngày họp lùi dần từ tuần này sang tuần khác. Người đi chợ phải nhớ lịch riêng của từng chợ.
Đấu, thưng là đơn vị đo gì?
Đấu và thưng là đồ đong thóc gạo dân gian, thường làm bằng gỗ hoặc tre. Dung tích của chúng không hoàn toàn thống nhất giữa các vùng và các thời kỳ, nên không quy đổi chính xác ra lít hay ki lô gam được. Khi đọc tài liệu cũ, nên xem chú thích của từng nguồn.
Cây bẹo ở chợ nổi là gì?
Cây bẹo là cây sào dài dựng trên ghe ở chợ nổi miền Tây, trên đó treo mẫu nông sản mà ghe đang bán để người mua từ xa nhìn thấy. Đây là cách quảng cáo bằng hình ảnh rất đặc trưng, phù hợp với khúc sông đông ghe xuồng và tiếng rao khó nghe rõ.
Đi chợ phiên vùng cao cần lưu ý gì?
Đi sớm vì chợ thường đông từ sáng và tan trước trưa. Hỏi người bán trước khi chụp ảnh họ, đặc biệt là người lớn tuổi và trẻ nhỏ. Mặc cả nhẹ nhàng, không ép giá người bán nhỏ. Không chen vào những khu bán gia súc nếu không có việc vì dễ gây nguy hiểm.