PhuNong.comPhú Nông
Nếp sống làng quê theo mùa

Nếp sống làng quê theo mùa: một năm của nhà nông xưa từ tháng Giêng đến tháng Chạp

Làng quê Việt xưa sống theo nhịp lúa: lúc ăn chơi, lúc giáp hạt, lúc gặt, lúc nông nhàn. Đi qua từng tháng âm lịch ở Bắc Bộ, đối chiếu Nam Bộ và vùng cao.

Wide view of a northern Vietnamese village at the edge of green rice fields in early morning mist, farmers walking along a dyke with shoulder poles, seen from behind

Làng quê Việt xưa sống theo nhịp cây lúa: việc làm, bữa ăn, ngày hội, chuyện cưới xin, cả lúc trẻ con được rong chơi đều xếp theo mùa vụ. Ở đồng bằng Bắc Bộ, một năm có hai vụ chính là vụ chiêm gặt vào khoảng tháng Năm âm lịch và vụ mùa gặt vào khoảng tháng Mười, xen giữa là hai đợt giáp hạt thiếu ăn quen gọi là "tháng ba ngày tám", và những quãng nông nhàn để làm nghề phụ, mở hội, sửa nhà, lo việc làng.

Nam Bộ có nhịp khác vì mùa mưa, mùa khô và mùa nước nổi; đồng bào vùng cao lại theo lịch phát rẫy, tỉa hạt, thu hoạch. Bài này đi qua một năm của nhà nông xưa theo từng quãng tháng, chỉ ra những tập quán gắn với mỗi quãng, và vì sao hiểu nhịp ấy giúp người hôm nay đọc đúng ca dao, tục ngữ và ký ức của ông bà.

Vì sao làng quê xưa sống theo mùa chứ không theo tháng dương lịch

Trước khi có thuỷ lợi chủ động và giống lúa ngắn ngày, mọi việc của làng phụ thuộc vào nước trời: mưa đến lúc nào, lũ lên lúc nào, rét đến lúc nào. Người nông dân không cần biết hôm nay là ngày mấy dương lịch; cái cần biết là đã sang tiết nào, ruộng đã đủ nước chưa, mạ đã đủ tuổi chưa. Vì thế lịch của làng là âm lịch kèm 24 tiết khí, và những câu ca truyền miệng đóng vai trò như cuốn sổ tay mùa vụ.

Nhịp mùa vụ kéo theo nhịp của mọi thứ khác. Lúc ruộng cần người thì cả nhà ra đồng, trẻ con trông em, người già nấu cơm; lúc lúa đã vào bồ thì làng mới tính chuyện cưới hỏi, làm nhà, mở hội. Ở nhiều làng Bắc Bộ, đám cưới dồn vào quãng cuối năm và sau Tết, khi thóc vừa thu xong và việc đồng đã nhẹ. Đám giỗ, việc làng cũng được sắp để không đụng vào ngày cấy, ngày gặt.

Hiểu điều này giúp đọc đúng nhiều câu nói tưởng như vô lý. "Tháng Giêng là tháng ăn chơi" không có nghĩa người xưa lười, mà vì tháng ấy lúa chiêm đã cấy xong, chưa đến lúc gặt. "Tháng ba ngày tám" không phải ngày cụ thể, mà là hai quãng giữa vụ khi thóc cũ đã cạn và thóc mới chưa về.

Một năm ở làng đồng bằng Bắc Bộ, quãng tháng nào làm gì

Bảng dưới tóm nhịp chung ở đồng bằng sông Hồng thời trước khi có giống lúa ngắn ngày phổ biến. Mỗi vùng, mỗi chân ruộng (trũng hay cao) có thể lệch nhau vài tuần; tháng ghi theo âm lịch.

Quãng tháng (âm lịch)Việc đồngĐời sống làng
Tháng Chạp – tháng GiêngCấy lúa chiêm trong rét, chăm mạ, trồng khoaiTát ao, lo Tết, hội xuân, cưới hỏi
Tháng Hai – tháng BaLàm cỏ, bón lúa chiêm, trồng màuGiáp hạt lần một, độn khoai sắn, Thanh minh
Tháng Tư – tháng NămLúa chiêm chín, gặt chiêm, gieo mạ mùaBận nhất năm, đổi công, Tết Đoan ngọ
Tháng Sáu – tháng BảyCấy mùa, chống úng, giữ đê mùa lũMưa ngâu, ở nhà vá lưới, đan lát khi mưa
Tháng TámLúa mùa đang thì con gái, làm cỏGiáp hạt lần hai, Trung thu cho trẻ con
Tháng Chín – tháng MườiGặt mùa, phơi rơm, trồng khoai trên ruộng caoCơm mới, làm cốm, cúng cơm mới
Tháng MộtGieo mạ chiêm, cày ảiNông nhàn, nghề phụ, sửa nhà, đắp đường

Cách chia này là khung tham chiếu, không phải lịch cứng. Ở vùng trũng chỉ cấy được một vụ chiêm, mùa lũ ngập trắng đồng; ở vùng ven biển có nơi chỉ làm một vụ mùa. Nhưng nhịp hai vụ, hai lần giáp hạt và một quãng nông nhàn là bộ khung mà phần lớn làng Bắc Bộ xưa chia sẻ.

Mùa bận: cấy, gặt và những ngày cả làng ra đồng

Hai đỉnh bận nhất trong năm là lúc gặt chiêm nối liền cấy mùa vào khoảng tháng Năm, tháng Sáu âm lịch, và lúc gặt mùa vào tháng Mười. Đặc biệt quãng đầu hè rất gấp: lúa chiêm phải gặt kịp trước mưa lớn, rồi ruộng phải cày bừa ngay để cấy mùa cho kịp thời vụ. Người già gọi đó là lúc "ăn vội ngủ vội".

Những ngày ấy, nhà nào cũng thiếu người. Làng xoay xở bằng đổi công: hôm nay mấy nhà cùng gặt ruộng nhà này, mai sang ruộng nhà kia. Phụ nữ đi cấy theo phường, vừa cấy vừa hò. Bữa trưa thường không về nhà mà mang cơm ra bờ ruộng: cơm nắm, cá kho, rau luộc, ấm nước chè xanh. Trẻ lớn gánh lúa nhẹ, trẻ nhỏ trông em, mót lúa rơi.

Sân gạch, sân đất nện trong mùa gặt là nơi bận rộn nhất nhà: đập lúa, phơi thóc, quạt thóc, phơi rơm. Mùi rơm mới, tiếng trục lăn lúa, đống rơm cao trong góc vườn là những hình ảnh mà người quê đi xa nhớ nhất. Chính vì mùa bận đọng lại sâu trong trí nhớ, nhiều lễ hội nông nghiệp đặt ngay sau vụ gặt: mừng cơm mới, hội làng mùa thu, lễ mừng lúa mới của đồng bào Tây Nguyên.

Mùa giáp hạt và mùa nông nhàn: hai mặt của khoảng lặng

Giữa hai vụ có những quãng ít việc đồng, nhưng "ít việc" không có nghĩa là thong thả. Quãng tháng Ba và tháng Tám âm lịch, thóc vụ trước đã ăn gần hết, thóc vụ sau chưa chín. Nhà khá giả không sao, nhà nghèo phải độn khoai, sắn, ngô vào cơm, ăn cháo, đi mò cua bắt ốc, vay thóc của nhà khác hẹn trả sau vụ. Đó là "tháng ba ngày tám" trong lời các cụ.

Quãng nông nhàn cuối năm, sau gặt mùa và trước khi cấy chiêm, lại là lúc làng làm những việc không làm được khi ruộng cần người. Người dệt vải, đan rổ rá, làm nón, làm hương, làm bánh đa, đóng đồ gỗ; người đi làm thuê ở nơi khác; trai làng đắp đường, nạo vét mương; nhà nào có của thì sửa nhà, lợp lại mái rạ. Nhiều làng nghề nổi tiếng ở đồng bằng Bắc Bộ khởi nguồn từ chính nhu cầu kiếm thêm trong quãng nông nhàn này.

Khoảng lặng cũng là thời của hội hè. Phường chèo làng tập tuồng, hội làng mở vào mùa xuân hoặc mùa thu, các cuộc vật, đánh đu, kéo co diễn ra ở sân đình. Người xưa đặt hội vào lúc nông nhàn không phải tình cờ: đó là lúc người có thời gian, có chút thóc dư để góp lễ, và cần một dịp để làng gắn kết lại trước vụ mới.

Giếng làng, đình làng, chợ làng: những nơi nhịp mùa hiện rõ nhất

Giếng làng. Ở nhiều làng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, giếng chung là nơi lấy nước ăn, gánh nước về chum vại. Mùa khô giếng cạn, làng phải nạo vét; mùa mưa giếng đầy. Buổi chiều mùa gặt, giếng là nơi người ta rửa chân tay, kể chuyện ruộng nhà ai lúa tốt.

Đình làng. Đình là nơi họp việc làng, thờ thành hoàng và mở hội. Lịch hội đình phần nhiều rơi vào mùa xuân sau Tết hoặc mùa thu sau gặt, nghĩa là bám theo nhịp lúa. Sân đình mùa gặt có nơi còn được dùng phơi thóc chung.

Chợ làng. Chợ họp theo phiên, thường theo ngày âm lịch. Mùa giáp hạt chợ vắng hàng thóc gạo, nhiều rau dại, cua ốc; mùa gặt chợ đông, thóc gạo mới, nông cụ, nong nia bày bán trước vụ.

Ao làng và bến nước. Ao là nơi giặt giũ, nuôi cá, lấy nước tưới rau. Cuối năm tát ao bắt cá ăn Tết, bùn ao vét lên bón ruộng, bón vườn. Bến sông là nơi trâu tắm sau buổi cày và trẻ con tắm mùa hè.

Cây đa, quán nước đầu làng. Đầu làng thường có cây đa và quán nước, nơi người đi đồng nghỉ chân. Câu hỏi quen ở đó luôn là chuyện trời: mưa chưa, nước lên chưa, lúa nhà ai đã trổ.

Nam Bộ và vùng cao: những nhịp năm khác với đồng bằng Bắc Bộ

Ở đồng bằng sông Cửu Long, khí hậu chia rõ mùa mưa và mùa khô, lại có mùa nước nổi từ thượng nguồn Mê Kông đổ về vào khoảng tháng Bảy đến tháng Mười âm lịch. Ruộng lúa mùa cổ truyền ở nhiều nơi chỉ làm một vụ, cấy theo con nước; có nơi cấy hai lần, cấy tạm một chỗ rồi nhổ lên cấy lại ra ruộng chính. Mùa nước nổi là mùa của lưới, đó, cá linh, bông điên điển, và cũng là quãng nông nhàn đặc thù của miền Tây.

Ở Tây Nguyên và các vùng núi phía Bắc, nhiều cộng đồng làm nương rẫy theo nhịp mùa khô, mùa mưa: phát rẫy và phơi cây khi trời khô, tỉa hạt khi những trận mưa đầu mùa đến, làm cỏ suốt mùa mưa, thu hoạch cuối năm. Sau thu hoạch là các lễ mừng lúa mới của người Ê Đê, M'nông, Ba Na, Xơ Đăng và nhiều dân tộc khác, cũng là lúc dựng nhà, cưới hỏi, thăm nhau.

Ở vùng ruộng bậc thang Tây Bắc, nhịp năm lại theo mùa nước đổ về các thửa ruộng trên sườn núi: đổ nước, cày bừa vào khoảng tháng Năm, tháng Sáu dương lịch, lúa chín vàng vào tháng Chín, tháng Mười. So sánh ba vùng cho thấy "nếp sống theo mùa" không phải một khuôn chung; mỗi vùng đọc thiên nhiên nơi mình sống và xếp đời mình theo đó.

Mùa nào thức nấy: bữa ăn của làng cũng chạy theo lịch

Mâm cơm làng quê xưa là tấm gương phản chiếu mùa vụ rõ nhất. Mùa cấy, ruộng đầy nước, cua đồng béo, rau muống, rau rút nhiều; canh cua rau đay, cà pháo muối là món của những ngày hè vừa cấy xong. Mùa gặt có cơm gạo mới, thơm và dẻo hơn hẳn gạo để lâu trong bồ; nhiều nhà nấu nồi cơm mới đầu tiên để cúng rồi mới ăn, một tục mà ngày nay vẫn được giữ như nếp nhà.

Cuối hè sang thu, lúa nếp non được rang, giã thành cốm; vùng ven biển Bắc Bộ chờ rươi lên vào khoảng tháng Chín, tháng Mười âm lịch, như câu quen "tháng chín đôi mươi, tháng mười mồng năm". Mùa đông là lúc muối dưa cải, làm tương, phơi cá khô, chuẩn bị cho Tết. Mùa giáp hạt thì bữa ăn mỏng đi, khoai sắn độn nhiều hơn, rau dại hái ngoài bờ ruộng nhiều hơn.

Ở miền Tây, mùa nước nổi đem cá linh, bông điên điển, bông súng; mùa khô là mùa tát đìa, làm mắm, phơi khô. Ở vùng cao, mùa thu hoạch là mùa của cơm mới nấu từ lúa nương, mùa măng rừng gắn với những tháng mưa. Vì thế, khi người già nhớ về một mùa, họ thường nhớ qua một món ăn: chính món ăn là cái mốc thời gian dễ nhớ nhất của đời nhà nông.

Nhịp mùa của làng thay đổi thế nào, và còn lại gì

Từ nửa sau thế kỷ 20, thuỷ lợi, giống lúa ngắn ngày và máy móc làm nhịp năm của làng đổi hẳn. Nhiều nơi làm được hai, ba vụ; máy gặt đập liên hợp rút mùa gặt từ vài tuần xuống vài ngày; người trẻ đi làm công nhân, quãng nông nhàn không còn rõ. Cái đói giáp hạt "tháng ba ngày tám" với phần lớn đồng bằng đã thành chuyện kể của ông bà.

Nhưng nhiều thứ vẫn bám theo mùa. Hội làng vẫn mở vào mùa xuân, mùa thu. Bữa cơm mới, đĩa cốm đầu mùa vẫn được chờ. Người ở phố vẫn về quê "dịp gặt" dù chẳng còn phải cầm liềm. Câu ca dao về tháng Giêng ăn chơi, tháng Năm gặt chiêm vẫn được dạy ở trường, và để hiểu nó, người trẻ cần biết cái nhịp mà nó mô tả.

Với người muốn ghi lại ký ức làng, hỏi theo mùa là cách hỏi hiệu quả: mùa gặt nhà mình làm thế nào, giáp hạt ăn gì, nông nhàn ông làm nghề gì, hội làng mở tháng nào. Câu trả lời thường mở ra những chi tiết mà hỏi chung chung "ngày xưa thế nào" không gợi lên được.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao gọi là vụ chiêm và vụ mùa?

Ở Bắc Bộ, vụ chiêm là vụ lúa cấy trong mùa đông xuân và gặt vào khoảng tháng Năm âm lịch, còn vụ mùa cấy giữa hè và gặt khoảng tháng Mười. Tên gọi đã có từ lâu trong dân gian; nay ngành nông nghiệp thường gọi vụ đông xuân và vụ mùa, nhưng nhiều làng vẫn quen tên cũ.

Câu "tháng năm chưa nằm đã sáng, tháng mười chưa cười đã tối" có đúng không?

Đúng về thiên văn. Tháng Năm âm lịch rơi vào khoảng tháng Sáu dương lịch, gần ngày hạ chí nên ngày dài đêm ngắn; tháng Mười âm lịch rơi vào khoảng tháng Mười một dương lịch, gần đông chí nên ngày ngắn. Câu này cũng nhắc nhà nông tận dụng ánh sáng: mùa hè dậy sớm ra đồng, mùa đông xong việc sớm.

Làng quê xưa có thật sự nghỉ ngơi trong tháng Giêng không?

Nghỉ việc nặng thì có, nghỉ hẳn thì không. Tháng Giêng lúa chiêm đã cấy, người ta vẫn ra thăm ruộng, làm cỏ, trồng màu, chăm trâu bò qua rét. Cái "ăn chơi" là được dự hội, thăm họ hàng, ăn những thứ Tết để dành, sau một quãng làm lụng vất vả cuối năm.

Nhịp năm ở Nam Bộ khác Bắc Bộ ở điểm nào lớn nhất?

Điểm lớn nhất là mùa nước nổi và việc khí hậu chỉ chia mùa mưa, mùa khô, không có mùa đông lạnh. Lúa mùa cổ truyền ở miền Tây theo con nước, mùa nước nổi là mùa đánh bắt cá, hái bông điên điển. Bắc Bộ thì bị rét chi phối, phải tính vụ chiêm trong gió bấc và vụ mùa trước bão.

Nếp sống theo mùa còn quan trọng với người ở phố không?

Còn, theo nghĩa hiểu gốc của nhiều thứ quen thuộc: vì sao Tết rơi vào lúc ấy, vì sao hội làng mở mùa xuân, vì sao cốm, rươi, cá linh có mùa. Biết nhịp năm của làng cũng giúp người ở phố về quê đúng lúc, trò chuyện với người già dễ hơn và ghi lại ký ức gia đình đầy đủ hơn.

Muốn tìm hiểu nhịp mùa ở làng quê mình thì bắt đầu từ đâu?

Bắt đầu bằng hỏi người lớn tuổi trong họ theo từng mùa: cấy tháng nào, gặt tháng nào, giáp hạt ăn gì, nông nhàn làm gì, hội làng mở ngày nào. Ghi lại cả tên ruộng, tên xứ đồng và câu ca riêng của làng. Đối chiếu với lịch thời vụ hiện nay để thấy cái gì đã đổi.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.