PhuNong.comPhú Nông
Ruộng bậc thang, thuỷ lợi và hệ canh tác truyền thống

Đồng chiêm trũng Bắc Bộ: ruộng một vụ, gàu tát nước và nếp sống quanh vùng nước

Đồng chiêm trũng là gì, vì sao xưa chỉ cấy được một vụ chiêm, câu "chiêm khê mùa thối" nói gì, người vùng trũng tát nước, bắt cá, làm nghề phụ ra sao qua các mùa.

Two farmers swinging a bamboo scoop basket on ropes to lift water between flooded rice paddies, low winter sun, silhouettes from the side

Đồng chiêm trũng là những vùng ruộng thấp ở đồng bằng Bắc Bộ, ngập nước sâu suốt mùa mưa, nên xưa kia mỗi năm chỉ cấy được một vụ lúa chiêm vào mùa đông xuân, còn mùa hè thu ruộng thành đầm nước, người dân sống bằng cá đồng và nghề phụ. Những vùng chiêm trũng điển hình nằm ở phía nam đồng bằng, như vùng Hà Nam cũ và Nam Định cũ (nay thuộc Ninh Bình), một phần Thái Bình cũ (nay thuộc Hưng Yên), vùng Hải Dương cũ (nay thuộc Hải Phòng) và phía nam Hà Nội.

Câu tục ngữ "chiêm khê mùa thối" tóm cả nỗi vất vả của vùng này: vụ chiêm lo thiếu nước, vụ mùa lo ngập úng. Bài này kể lại hệ canh tác ruộng trũng xưa, nếp sống theo nước, và những thay đổi khi các trạm bơm tiêu úng xuất hiện.

Vì sao gọi là chiêm trũng

Đồng bằng sông Hồng không phẳng như mặt bàn. Giữa các dải đất cao ven sông có những lòng chảo thấp, xa sông, nước mưa đổ về mà không thoát kịp. Khi có hệ thống đê ngăn lũ sông, những ô trũng này lại càng khó tiêu nước, vì nước bên trong đồng không chảy ra sông được khi mực sông cao. Mùa mưa từ khoảng tháng 5 đến tháng 10, ruộng trũng ngập sâu, có nơi ngập quá đầu người.

Trên những ruộng ấy, lúa mùa thông thường không sống được. Người nông dân chọn cấy lúa vào mùa khô lạnh, khi nước đã rút bớt: đó là vụ chiêm. Lúa chiêm cấy khoảng cuối năm âm lịch, gặt vào khoảng tháng tư, tháng năm, kịp trước khi mưa lớn đầu mùa làm ngập lại ruộng.

Chữ "chiêm" trong tiếng Việt chỉ vụ lúa cấy mùa đông, gặt đầu hè. Ruộng chỉ làm được vụ chiêm gọi là ruộng chiêm; vùng có nhiều ruộng chiêm thấp, ngập sâu gọi là vùng chiêm trũng. Người các vùng khác hay gọi người ở đây là "dân chiêm trũng", một cách gọi gợi cả sự vất vả lẫn sự chịu thương chịu khó.

Giải nghĩa vài câu tục ngữ, ca dao về vụ chiêm

"Chiêm khê mùa thối." Vụ chiêm rơi vào mùa khô, nếu mưa phùn ít, ruộng thiếu nước thì lúa khô héo (khê); vụ mùa rơi vào mùa mưa bão, ruộng ngập lâu thì lúa thối gốc. Câu này đúng với vùng trũng trước khi có hệ thống tưới tiêu chủ động; ngày nay, nhờ trạm bơm, nhiều vùng đã giảm hẳn hai nỗi lo ấy.

"Lúa chiêm lấp ló đầu bờ, hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên." Khoảng tháng hai, tháng ba âm lịch, lúa chiêm đang đẻ nhánh. Những cơn mưa giông đầu mùa có sấm sét mang lại nước và một lượng đạm nhỏ, vì tia sét làm khí nitơ trong không khí kết hợp với oxy, rồi theo nước mưa xuống đất. Khoa học ngày nay xác nhận cơ chế này có thật, dù lượng đạm từ mưa không thay được phân bón.

"Hỡi cô tát nước bên đàng, sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi." Câu ca dao quen thuộc này vẽ lại cảnh tát nước đêm trăng, việc thường ngày của người làm ruộng chiêm khi phải đưa nước từ mương lên ruộng hoặc tát cạn ruộng ngập. Nó cho thấy lao động nặng nhọc ở đồng trũng đã đi vào thơ ca trữ tình như thế nào.

"Tháng chạp là tháng trồng khoai, tháng giêng trồng đậu, tháng hai trồng cà." Câu này không riêng vùng trũng mà kể nhịp trồng cây màu ở chân ruộng cao trong những tháng lạnh. Nó đúng với khí hậu Bắc Bộ, nhưng thời vụ cụ thể hôm nay theo khuyến cáo địa phương vì giống và khí hậu đã khác.

Gàu sòng, gàu dai: tát nước bằng sức người

Trước khi có máy bơm, đưa nước vào hay ra khỏi ruộng chiêm hoàn toàn bằng sức người. Hai dụng cụ quen thuộc nhất là gàu sòng và gàu dai. Gàu sòng treo trên một chiếc giá ba chân, một người cầm cán đưa gàu múc nước hắt sang ruộng bên kia; dùng khi chênh lệch mực nước thấp. Gàu dai có bốn sợi dây, hai người đứng hai bên, nhịp nhàng kéo dây đưa gàu múc nước từ thấp hắt lên cao.

Tát nước là việc nặng, thường làm sáng sớm hoặc đêm trăng cho đỡ nắng. Hai người tát gàu dai phải đều tay, cùng nhịp, nên tát nước cũng là dịp trai gái trong làng hát đối đáp. Nhiều câu hò, câu ca dao ra đời bên bờ ruộng lúc tát nước.

Ở những ô ruộng lớn, cả nhóm thay nhau tát suốt nhiều ngày mới hạ được mực nước. Người già vùng trũng kể rằng có năm mưa trái mùa, ruộng vừa cấy đã ngập, cả nhà tát ngày tát đêm mà nước vẫn không xuống kịp. Những câu chuyện ấy giải thích vì sao khi trạm bơm điện về, người vùng trũng coi đó là thay đổi lớn nhất trong đời làm ruộng của họ.

Mùa nước: cá đồng và nghề đánh bắt

Khi gặt xong vụ chiêm và mưa lớn bắt đầu, đồng trũng biến thành một vùng nước mênh mông. Cá theo nước từ sông, từ mương vào ruộng sinh sản: cá rô, cá diếc, cá chép, cá chuối, cá trê, lươn, ếch, tôm, cua, ốc. Đây là nguồn đạm quan trọng của người vùng trũng, và cũng là nguồn thu khi mang ra chợ.

Các nghề đánh bắt cá đồng phát triển phong phú: đặt đó, đặt lờ, cắm câu, kéo vó, quăng chài, đơm đăng ở cửa mương. Mỗi dụng cụ đan bằng tre, nứa, có hình dáng riêng cho từng loại cá. Nhiều làng có thợ đan đó, đan lờ nổi tiếng, bán cho cả vùng.

Cuối mùa nước, khi đồng rút dần, cả làng ra tát đìa, tát ao, bắt cá còn mắc lại ở chỗ trũng nhất. Cá nhiều thì làm mắm, phơi khô, để dành ăn dần qua mùa đông. Bún cá, canh cá, cá kho tương, cá rô rán là những món quen trong bữa cơm vùng chiêm trũng, gắn chặt với mùa nước ấy.

Nghề phụ lúc chờ nước rút

Vì chỉ một vụ lúa, người vùng chiêm trũng có thời gian nông nhàn dài trong mùa nước. Nhiều làng phát triển nghề phụ để có thêm thu nhập: dệt vải, đan cói, đan giỏ, làm nón, làm chiếu, chạm khắc gỗ, làm hàng tre. Một số làng nghề nổi tiếng hôm nay ở các tỉnh vùng trũng có gốc từ chính những tháng chờ nước rút ấy.

Đi làm thuê ở vùng khác cũng là một cách. Người vùng trũng đi gặt thuê, cấy thuê ở các vùng có lịch mùa vụ lệch với quê mình, mùa nào về mùa ấy. Những dòng người đi làm mùa như vậy là một hình ảnh quen thuộc của nông thôn Bắc Bộ xưa.

Cuộc sống vùng trũng vì thế không chỉ có ruộng. Nó là một hệ kết hợp: một vụ lúa, một mùa cá, nhiều nghề phụ, và những chuyến đi làm xa. Hiểu hệ kết hợp ấy giúp hiểu vì sao nhiều vùng chiêm trũng có nghề thủ công phát triển mạnh và người dân rất linh hoạt trong mưu sinh.

Một năm ở đồng chiêm trũng ngày xưa

Lịch dưới đây là khái quát theo lời kể của người lớn tuổi ở các vùng trũng Bắc Bộ; từng làng có thể lệch vài tuần tuỳ địa thế và năm nước to hay nhỏ.

  • Tháng mười, tháng mười một âm lịch: nước bắt đầu rút, người làng tát cạn các ô ruộng, vớt bèo, dọn cỏ, bắt cá cuối mùa. Mạ chiêm được gieo ở chân ruộng cao.
  • Tháng chạp, tháng giêng: cấy lúa chiêm trong gió bấc lạnh, nhiều khi phải lội nước ngang đùi. Đây là thời điểm vất vả nhất trong năm, người cấy thường uống rượu, ăn cơm nóng ngay bờ ruộng để chống rét.
  • Tháng hai, tháng ba: lúa đẻ nhánh, làm cỏ, giữ nước. Những cơn mưa giông đầu mùa đến, người làng chờ tiếng sấm như chờ tin vui.
  • Tháng tư, tháng năm: gặt lúa chiêm, phơi thóc, trữ rơm. Phải gặt nhanh trước khi mưa lớn làm ngập ruộng.
  • Tháng sáu đến tháng chín: mùa nước. Ruộng thành đầm, người làng đánh bắt cá, làm nghề phụ, đi làm thuê ở vùng khác, chờ nước rút để bắt đầu vòng mới.

Vòng năm ấy cho thấy người vùng trũng không thụ động trước nước. Họ chia năm thành hai nửa rõ rệt — nửa làm lúa, nửa sống với nước — và tổ chức cuộc sống quanh sự phân chia đó.

Làng vùng trũng: nhà nền cao, đường đắp, chợ ven đê

Ở vùng chiêm trũng, làng thường nằm trên những gò đất cao hơn mặt ruộng, có khi phải đắp thêm nền mới đủ cao để không ngập trong mùa nước. Đường làng đắp cao như những con đê nhỏ, nối các làng với nhau, mùa nước nhiều đoạn chỉ đi được bằng thuyền nan. Thuyền nan, mảng tre là phương tiện quen thuộc của nhiều gia đình vùng trũng.

Ao quanh làng là chỗ lấy đất đắp nền, đồng thời giữ nước và nuôi cá. Chợ làng thường họp ở chỗ đất cao nhất hoặc ngay chân đê, nơi thuyền các làng chèo đến được trong mùa nước. Những phiên chợ mùa nước bày bán cá đồng, ốc, lươn, rau rút, rau muống và hàng thủ công của các làng nghề.

Những đặc điểm ấy làm nên dáng làng riêng của vùng trũng, khác với làng ở vùng đất cao ven sông. Ngày nay khi đường bê tông đã nối đến từng xóm, nhiều dấu vết của làng vùng trũng xưa mờ đi, nhưng thế đất cao thấp của làng vẫn kể lại câu chuyện về một thời con người sống cùng mùa nước.

Khi trạm bơm về: đồng chiêm đổi khác

Từ nửa sau thế kỷ 20, nhiều hệ thống thuỷ nông, trạm bơm tiêu úng được xây dựng ở đồng bằng Bắc Bộ. Nước trong đồng được bơm ra sông khi mưa lớn, bơm vào ruộng khi khô hạn. Nhiều vùng chiêm trũng chuyển từ một vụ sang hai vụ lúa mỗi năm, đời sống nông dân thay đổi rõ rệt.

Cùng với đó, một phần hệ canh tác cũ mất đi: những giống lúa chiêm cũ chịu rét, chịu ngập, những cánh đồng nước mùa hè đầy cá đồng, những chiếc gàu sòng gàu dai. Cá đồng ít đi khi ruộng được tiêu cạn và thuốc bảo vệ thực vật dùng nhiều hơn. Đây là sự đánh đổi mà nhiều người lớn tuổi ở vùng trũng vẫn nhắc khi so sánh hai thời.

Gần đây, ở một số vùng trũng quá sâu, khó làm hai vụ lúa hiệu quả, người dân chuyển một phần ruộng sang kết hợp lúa với cá, hoặc trồng sen, nuôi thuỷ sản. Cách làm mới mang dáng dấp của hệ canh tác xưa: tận dụng mùa nước thay vì chống lại nó. Phần kỹ thuật của các mô hình ấy thuộc về các trang chuyên kỹ thuật; ở đây chỉ ghi nhận sự nối dài của một tư duy cũ.

Câu hỏi thường gặp

Lúa chiêm và lúa mùa khác nhau thế nào?

Lúa chiêm cấy vào mùa đông xuân, khoảng cuối năm âm lịch, gặt vào đầu hè. Lúa mùa cấy vào giữa năm, gặt vào khoảng tháng mười âm lịch. Ở vùng trũng, xưa chỉ làm được vụ chiêm vì mùa mưa ruộng ngập sâu. Ngày nay tên vụ ở miền Bắc thường gọi là vụ đông xuân và vụ mùa.

"Chiêm khê mùa thối" có còn đúng không?

Câu này mô tả đúng nỗi lo của vùng trũng thời chưa có tưới tiêu chủ động: vụ chiêm sợ khô hạn, vụ mùa sợ ngập úng. Nhờ hệ thống trạm bơm, kênh mương, nhiều vùng đã giảm đáng kể hai rủi ro này. Tuy nhiên khi gặp hạn hán hoặc mưa lớn bất thường, những nỗi lo ấy vẫn có thể quay lại.

Sấm sét có thật sự giúp lúa tốt hơn không?

Có một phần. Tia sét làm nitơ trong không khí kết hợp với oxy, tạo ra hợp chất đạm hoà vào nước mưa rơi xuống đất. Lượng đạm này nhỏ so với nhu cầu của cây, nhưng mưa giông đầu mùa còn mang nước cho ruộng đang khô. Vì vậy câu ca dao về lúa chiêm nghe tiếng sấm có cơ sở khoa học.

Gàu sòng và gàu dai dùng khác nhau ra sao?

Gàu sòng treo trên giá ba chân, một người tát, dùng khi chênh lệch mực nước giữa hai bên thấp. Gàu dai có bốn sợi dây, hai người cùng tát, hắt được nước lên cao hơn. Cả hai đều đan bằng tre, nay hầu như chỉ còn trong bảo tàng hoặc trong các buổi trình diễn ở làng du lịch.

Những vùng nào ở miền Bắc từng là chiêm trũng?

Các vùng chiêm trũng điển hình nằm ở phía nam đồng bằng sông Hồng: vùng Hà Nam cũ và Nam Định cũ nay thuộc Ninh Bình, một phần Thái Bình cũ nay thuộc Hưng Yên, Hải Dương cũ nay thuộc Hải Phòng, và một số vùng phía nam Hà Nội. Trong mỗi tỉnh cũng có ô trũng xen với đất cao.

Vì sao vùng chiêm trũng nhiều làng nghề?

Vì xưa chỉ cấy được một vụ, người dân có thời gian nông nhàn dài trong mùa nước, phải làm thêm nghề phụ để có thu nhập. Nhiều nghề đan, dệt, làm nón, làm chiếu phát triển từ đó. Vùng nước rộng cũng cung cấp nguyên liệu như cói, tre, nứa, lác cho các nghề thủ công.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.