PhuNong.comPhú Nông
Lịch sử khai hoang, mở đất

Đồn điền, điền trang và doanh điền: các triều đại Việt Nam tổ chức khai hoang thế nào

Ba cách các triều đại tổ chức khai hoang: điền trang thời Trần, đồn điền thời Lê, doanh điền thời Nguyễn — ai làm, ai hưởng, khác đồn điền thời Pháp ra sao.

Rows of farmers in conical hats seen from behind hoeing a wide field of dark freshly cleared soil, low hills and morning haze behind

Các triều đại phong kiến Việt Nam tổ chức khai hoang theo ba mô hình chính: điền trang (quý tộc chiêu tập dân nghèo khai phá, thịnh thời Trần), đồn điền (binh lính, tù phạm khai phá đất cho nhà nước, phát triển mạnh thời Lê sơ và được dùng lại nhiều lần), và doanh điền (nhà nước cấp vốn cho dân nghèo đi lập làng mới, tiêu biểu thời Nguyễn). Mỗi mô hình trả lời câu hỏi "ai đi khai, ai bỏ vốn, đất về tay ai" theo một cách khác.

Bài này đặt ba mô hình cạnh nhau như những cách tổ chức kinh tế, không đánh giá chính trị. Cuối bài phân biệt "đồn điền" thời phong kiến với "đồn điền" thời Pháp — hai thứ cùng tên mà khác hẳn bản chất.

Ngụ binh ư nông: lính cũng là người làm ruộng

Để hiểu đồn điền, cần bắt đầu từ một nếp quen thuộc của các triều đại Việt: ngụ binh ư nông, tức gửi lính vào nghề nông. Phần lớn binh lính không ở trại quanh năm mà chia phiên: một phần trực ở doanh trại, phần còn lại về quê làm ruộng, đến kỳ thì đổi. Cách làm này giúp nhà nước có quân đông mà không phải nuôi toàn bộ quanh năm, đồng ruộng cũng không thiếu người.

Từ nếp ấy, bước tiếp theo khá tự nhiên: thay vì cho lính về quê, đưa họ đến những vùng đất hoang để vừa canh giữ vừa khai phá. Lính làm ruộng ở nơi đóng quân, thóc làm ra nuôi chính đội quân ấy, phần dư nộp kho. Đó là hạt nhân của đồn điền, chữ "đồn" chỉ nơi đóng quân, "điền" là ruộng.

Mô hình này đặc biệt hợp với những vùng xa, vùng biên, vùng ven biển mới bồi, nơi dân thường chưa muốn đến ở. Lính đến trước, khai một vùng, đắp bờ, làm đường; sau đó dân theo đến, lập làng quanh đồn. Nhiều làng ở các vùng mở đất có gốc từ một đồn lính cũ, chỉ còn lại trong tên gọi hay trong truyền thuyết của làng.

Cũng nên hiểu rằng đời sống của người lính làm ruộng không nhẹ nhàng. Họ vừa phải giữ kỷ luật quân ngũ, vừa phải làm những việc nặng nhất của khai hoang như phát rừng, đào mương, đắp bờ ở nơi xa nhà, nhiều bệnh tật. Sử cũ có những đoạn chép về việc lính đồn điền bỏ trốn, hay triều đình phải giảm mức thóc phải nộp vì ruộng mới chưa cho mùa. Những chi tiết ấy cho thấy khai hoang bằng đồn điền cũng gặp đúng những khó khăn như mọi cuộc mở đất khác.

Điền trang thời Trần: quý tộc chiêu tập dân nghèo

Thời Trần, sức mạnh kinh tế của tầng lớp vương hầu dựa nhiều vào điền trang. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, năm 1266 nhà Trần cho các vương hầu, công chúa, phò mã chiêu tập những người nghèo không có sản nghiệp đi khai khẩn ruộng đất bỏ hoang, lập điền trang. Phần lớn đất khai phá theo cách này là bãi bồi ven biển và vùng trũng ở đồng bằng.

Người làm việc trong điền trang là những người nghèo được chiêu tập, thường gọi chung là nô tì hay gia nô của chủ điền trang. Họ đắp đê ngăn mặn, khai ruộng, cày cấy, và sống phụ thuộc vào chủ. Đổi lại, người không có ruộng có chỗ sống, có cái ăn, và đồng bằng có thêm những vùng ruộng mới mà nhà nước không phải bỏ vốn.

Nhà Trần cũng rất chú ý đến đê điều. Năm 1248, triều đình cho đắp đê dọc các sông lớn và đặt chức Hà đê sứ trông coi đê. Đê và điền trang đi cùng nhau: không có đê thì ruộng khai ra cũng mất trong một mùa lũ. Hệ thống đê sông Hồng mà ngày nay ta thấy là kết quả bồi đắp của nhiều triều đại kế tiếp trên nền móng ấy.

Đồn điền thời Lê sơ: nhà nước trực tiếp khai hoang

Sang thời Lê sơ, xu hướng đổi khác: nhà nước hạn chế điền trang tư nhân và tự đứng ra tổ chức khai hoang qua hệ thống đồn điền. Theo sử cũ, thời Lê Thánh Tông đã đặt 43 sở đồn điền ở nhiều nơi, đặt quan coi việc, dùng binh lính, người phạm tội bị đày và dân lưu tán khai phá đất hoang, đất bỏ hoá sau chiến tranh.

Ruộng đồn điền thuộc nhà nước, thóc thu được nộp vào kho để nuôi quân và dự trữ. Khi một vùng đồn điền đã ổn định, có người ở, có ruộng thành, nhà nước có thể chuyển nó thành làng xã bình thường, đưa ruộng vào chế độ ruộng công chia cho dân cày theo định kỳ. Như vậy đồn điền là bước đệm: khai phá bằng sức nhà nước, rồi trao lại cho làng xã quản lý.

Mô hình đồn điền còn được các triều sau dùng lại nhiều lần, nhất là khi cần khai phá vùng biên hay vùng vừa trải qua chiến tranh. Ở Đàng Trong, các chúa Nguyễn cũng dùng binh lính và lưu dân khai phá vùng đất từ Thuận Quảng trở vào, đồn binh và làng ruộng thường mọc lên cạnh nhau trên những vùng mới.

Ba mô hình khai hoang đặt cạnh nhau

Đặt ba mô hình cạnh nhau giúp thấy mỗi cách tổ chức giải bài toán "ai bỏ sức, ai bỏ vốn, đất về tay ai" ra sao:

Khía cạnhĐiền trang (thời Trần)Đồn điền (thời Lê sơ và sau)Doanh điền (thời Nguyễn)
Người đứng raVương hầu, quý tộcNhà nước, quan coi đồn điềnNhà nước, Doanh điền sứ
Người làmDân nghèo được chiêu tập, gia nôBinh lính, tù phạm, dân lưu tánDân nghèo không ruộng được mộ
Vốn ban đầuCủa chủ điền trangCủa nhà nước (lương lính, nông cụ)Nhà nước cấp tiền nhà, trâu, nông cụ
Đất về tayChủ điền trangNhà nước, sau chuyển làng xãDân khai hoang, theo đơn vị làng ấp
Ví dụ tiêu biểuBãi bồi ven biển thời TrầnCác sở đồn điền thời Lê Thánh TôngTiền Hải, Kim Sơn năm 1828–1829

Ba mô hình không loại trừ nhau. Trong cùng một thời kỳ, có thể vừa có đồn điền của nhà nước ở vùng biên, vừa có người giàu tự bỏ vốn chiêu mộ dân khai phá ở vùng khác. Điểm khác nhau lớn nhất là ai hưởng thành quả: chủ điền trang, kho nhà nước, hay chính người khai hoang.

Thời Nguyễn: doanh điền và đồn điền Nam Kỳ

Nhà Nguyễn dùng cả hai cách. Ở Bắc Bộ, cuộc doanh điền năm 1828–1829 do Nguyễn Công Trứ chủ trì là ví dụ tiêu biểu nhất: nhà nước cấp vốn ban đầu, dân nghèo được mộ đi khai hoang bãi bồi ven biển, chia thành lý, ấp, trại, giáp, ruộng khai được thuộc về dân. Mô hình này khác đồn điền ở chỗ người hưởng chính là người đi khai.

Ở Nam Kỳ, giữa thế kỷ 19, triều đình cho lập nhiều cơ đồn điền. Theo sử nhà Nguyễn, thời Tự Đức, Nguyễn Tri Phương khi được giao trông coi Nam Kỳ đã chiêu mộ dân lập đồn điền, vừa khai phá đất, vừa tổ chức lực lượng giữ đất. Nhiều làng ở miền Tây có gốc từ những cơ đồn điền thời ấy.

Song song là việc lập làng của tư nhân: người có của đứng ra chiêu mộ dân khai một vùng, khi đủ số hộ thì xin lập làng, đăng ký ruộng, nộp thuế. Vì vậy ruộng đất Nam Bộ có cơ cấu riêng: ruộng tư chiếm phần lớn, ruộng công ít hơn nhiều so với Bắc Bộ, nơi làng xã đã giữ ruộng công qua hàng trăm năm.

Nhà Nguyễn còn có một công cụ quản lý đất mới rất đáng chú ý là địa bạ — sổ ghi ruộng đất từng làng, lập trên quy mô lớn trong nửa đầu thế kỷ 19. Địa bạ ghi tên chủ ruộng, diện tích, hạng ruộng, ruộng công hay tư, và cả ruộng mới khai. Ngày nay, các bộ địa bạ ấy là nguồn tư liệu quý để biết một làng có bao nhiêu ruộng khai hoang vào thời điểm lập sổ, và giúp đối chiếu với lời kể trong gia phả.

Hai chữ "đồn điền" khác nghĩa: thời phong kiến và thời Pháp

Khi đọc sách về thế kỷ 20, chữ "đồn điền" mang một nghĩa khác hẳn. Đồn điền thời Pháp là những khu đất trồng cây công nghiệp quy mô lớn — cao su, cà phê, chè — thuộc sở hữu của công ty hoặc chủ đồn điền, thuê hàng nghìn công nhân, sản phẩm chủ yếu để xuất khẩu. Trong tiếng Pháp và tiếng Anh, kiểu này gọi là plantation.

Đồn điền thời phong kiến thì gắn với lính và nhà nước, trồng lúa là chính, mục tiêu là nuôi quân và khai phá đất. Hai thứ chỉ giống nhau ở việc mở đất mới và tổ chức lao động tập trung. Nhầm hai nghĩa này khi đọc tư liệu có thể dẫn tới hiểu sai: một làng được ghi là "gốc đồn điền" ở miền Tây có thể là đồn điền thế kỷ 19 của triều Nguyễn, còn một làng "gốc đồn điền" ở miền Đông Nam Bộ thường là làng công nhân cao su đầu thế kỷ 20.

Khi tìm hiểu lịch sử một vùng, cách đơn giản để phân biệt là xem thời điểm và cây trồng: trồng lúa và trước nửa sau thế kỷ 19 thì nhiều khả năng là đồn điền kiểu cũ; trồng cây công nghiệp và từ cuối thế kỷ 19 trở đi thì là đồn điền kiểu thuộc địa. Đời sống người lao động ở hai loại đồn điền cũng rất khác, và mỗi loại để lại một kiểu làng riêng.

Đọc lại các mô hình khai hoang hôm nay

Khai hoang luôn cần vốn ban đầu. Dù ai đứng ra, việc biến đất hoang thành ruộng đều cần một khoản đầu tư lớn trước khi có thu hoạch: đê, kênh, nông cụ, trâu, lương ăn. Câu hỏi ai bỏ khoản này quyết định ai hưởng thành quả.

Công trình nước luôn đi trước. Điền trang thời Trần đi cùng đê, doanh điền thời Nguyễn bắt đầu bằng đê bao và sông đào, đồn điền Nam Kỳ dựa vào kênh rạch. Không mô hình nào thành công nếu bỏ qua nước.

Đơn vị nhỏ giúp người lạ thành làng. Chia người khai hoang thành nhóm nhỏ có trách nhiệm chung là cách lặp lại qua nhiều thời, vì nó biến những người không quen nhau thành một cộng đồng giữ đê, chia nước.

Đất mới cần thời gian. Mọi mô hình đều phải chờ đất mặn, đất phèn được rửa qua nhiều năm. Những chính sách miễn giảm thuế cho đất mới khai trong sử cũ phản ánh đúng thực tế ấy.

Câu hỏi thường gặp

Ngụ binh ư nông là gì?

Ngụ binh ư nông là cách tổ chức quân đội của nhiều triều đại Việt Nam, trong đó binh lính chia phiên, một phần trực ở doanh trại, phần còn lại về làm ruộng, đến kỳ thì đổi. Cách này giúp có quân đông mà vẫn giữ được sản xuất nông nghiệp.

Điền trang và thái ấp khác nhau thế nào?

Thái ấp là vùng đất nhà vua phong cho quý tộc để hưởng thu nhập, trên đó đã có làng xã và dân cư. Điền trang là ruộng đất do quý tộc chiêu tập người nghèo khai phá từ đất hoang, thuộc quyền sở hữu riêng của chủ điền trang.

Thời Lê Thánh Tông có bao nhiêu sở đồn điền?

Theo sử cũ, thời Lê Thánh Tông đã đặt 43 sở đồn điền ở nhiều nơi, có quan trông coi, dùng binh lính, tù phạm và dân lưu tán khai phá đất hoang. Con số này thường được nhắc khi bàn về chính sách nông nghiệp thời Lê sơ.

Doanh điền khác đồn điền ở điểm nào?

Đồn điền dùng binh lính và tù phạm, ruộng thuộc nhà nước. Doanh điền như cuộc khai hoang năm 1828–1829 thì nhà nước cấp vốn ban đầu cho dân nghèo được mộ, ruộng khai xong thuộc về dân và được lập thành làng, huyện mới.

Vì sao Nam Bộ có ít ruộng công hơn Bắc Bộ?

Vì phần lớn đất Nam Bộ được khai phá bởi tư nhân trong vài thế kỷ gần đây theo chính sách khai được bao nhiêu thì đăng ký bấy nhiêu. Ở Bắc Bộ, làng xã đã giữ ruộng công qua hàng trăm năm và nhà nước nhiều lần chia ruộng công theo định kỳ.

Làm sao biết một làng có gốc từ đồn điền?

Có thể xem gia phả, văn bia ở đình, địa chí tỉnh và tên làng. Nếu làng trồng lúa và được ghi lập từ thế kỷ 19 trở về trước, gốc đồn điền thường là đồn điền kiểu cũ; nếu là làng công nhân cây công nghiệp đầu thế kỷ 20 thì là đồn điền thời Pháp.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.