PhuNong.comPhú Nông
Lịch sử khai hoang, mở đất

Khai khẩn phương Nam: lưu dân lập làng ở đồng bằng Nam Bộ từ thế kỷ 17 đến 19

Ai đi khai khẩn phương Nam, chọn đất ở đâu, lập làng ra sao? Lưu dân, cư dân Khmer và người Hoa, đất giồng, cù lao, ruộng sâu, điền chủ, tá điền và dấu vết còn lại.

Wooden boat with a family seen from behind gliding along a narrow canal lined with water coconut palms toward distant rice fields, morning mist

Khai khẩn phương Nam là quá trình người Việt từ miền Trung theo đường biển và đường bộ vào vùng Đồng Nai – Gia Định rồi xuống đồng bằng sông Cửu Long, kéo dài chủ yếu từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19. Họ khai phá trước hết những vùng đất cao ven sông, giồng cát và cù lao, sống cạnh người Khmer đã ở trên các giồng từ lâu và những nhóm người Hoa sang định cư, rồi mới lấn dần vào các vùng trũng.

Năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược, lập phủ Gia Định, đặt nền hành chính cho vùng đất mới. Bài này kể cách lưu dân chọn đất, lập làng, cách ruộng đất được chia, và những dấu vết của thời khai khẩn còn thấy trong cảnh quan, đình làng, lời ăn tiếng nói Nam Bộ hôm nay.

Những ai đã đi khai khẩn phương Nam

Lớp người Việt đầu tiên đến vùng Đồng Nai – Gia Định phần lớn là nông dân nghèo ở Thuận Quảng, những vùng đất hẹp, nhiều năm mất mùa, thiếu ruộng. Bên cạnh họ là người trốn sưu thuế, binh lính hết hạn, thợ thủ công, thương nhân theo ghe buôn. Sử cũ gọi chung họ là lưu dân, tức người rời quê đi tìm đất sống.

Họ không đến một vùng không người. Ở đồng bằng sông Cửu Long, người Khmer đã sống lâu đời trên các giồng cát cao, trồng lúa và hoa màu, lập các phum sóc quanh chùa. Vùng rừng miền Đông có các dân tộc bản địa như Xtiêng, Mạ, Chơ Ro. Cuối thế kỷ 17, những nhóm người Hoa do Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch dẫn đầu được chúa Nguyễn cho vào định cư ở vùng Biên Hoà và Mỹ Tho; dòng họ Mạc khai phá vùng Hà Tiên.

Vì vậy đồng bằng Nam Bộ hình thành từ nhiều lớp người cùng khai phá. Nhiều nghề, nhiều món ăn, nhiều từ ngữ ở đây là kết quả của sự sống chung ấy: người Việt học cách làm ruộng trên giồng của người Khmer, người Hoa mở phố chợ, buôn lúa gạo, và các nhóm dần trao đổi với nhau qua chợ, qua kênh rạch, qua hôn nhân.

Chọn đất: giồng, cù lao, ven sông trước, đồng trũng sau

Đất giồng. Giồng là những dải đất cát pha cao hơn xung quanh, dấu vết của các đường bờ biển cũ. Đất giồng không ngập lũ, có nước ngọt mạch nông, thích hợp làm nhà, trồng hoa màu, cây ăn trái. Người đến trước chọn giồng để ở, rồi mới làm ruộng ở chân giồng.

Cù lao và bãi ven sông. Cù lao giữa sông Tiền, sông Hậu được phù sa bồi đều, nước ngọt quanh năm, đi lại bằng ghe thuận tiện. Những cù lao lớn sớm thành vùng vườn trái cây và ruộng lúa trù phú, mật độ dân đông từ rất sớm.

Ruộng ven rạch. Dọc các rạch tự nhiên, người ta làm ruộng theo con nước: nước lên mang phù sa, nước rút để lại đất mềm. Đây là kiểu ruộng dễ khai phá nhất, không cần đắp đê lớn, chỉ cần be bờ giữ nước.

Đồng trũng phèn. Những vùng trũng sâu, ngập lâu, đất phèn như Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên, U Minh để lại sau cùng. Phải đến khi có kênh đào lớn ở thế kỷ 19, 20 và hiểu biết về thau chua rửa phèn, các vùng này mới được khai thác rộng.

Rừng miền Đông. Vùng đất đỏ, đất xám miền Đông khai phá chậm hơn vì rừng rậm, thiếu nước mùa khô. Lưu dân chủ yếu men theo sông Đồng Nai, sông Sài Gòn, lập làng ven bến, còn vùng rừng sâu đến đầu thế kỷ 20 mới thành đồn điền.

Năm 1698 và việc lập làng, lập sổ

Trước năm 1698, lưu dân tự khai phá, tự lập xóm. Năm ấy, Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh được chúa Nguyễn Phúc Chu cử vào kinh lược, lập phủ Gia Định với hai dinh Trấn Biên và Phiên Trấn, đặt quan cai quản, chia đặt xã, thôn, phường, ấp và lập sổ đinh, sổ điền. Theo Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, số hộ được ghi sổ lúc ấy đã lên đến hàng vạn.

Việc lập sổ có ý nghĩa lớn với người khai phá: đất đã khai được đăng ký làm của mình, được nhà nước công nhận, đổi lại phải nộp thuế. Chính sách của các chúa Nguyễn khá thoáng — ai khai được bao nhiêu thì đăng ký bấy nhiêu — nên khuyến khích người có vốn chiêu mộ thêm người làm, mở rộng ruộng.

Từ đó về sau, đơn vị hành chính ở vùng đất mới được đặt thêm dần theo tốc độ khai phá: dinh Long Hồ, rồi trấn Định Tường, trấn Vĩnh Thanh, trấn Hà Tiên… Mỗi lần đặt thêm đơn vị mới là một dấu mốc cho thấy vùng ấy đã đủ dân, đủ ruộng để nhà nước quản lý trực tiếp.

Một điểm ít người để ý là sổ sách thời ấy chỉ ghi được phần đất đã khai và người đã đăng ký. Ngoài sổ còn nhiều người làm ăn trên đất chưa khai báo, nhiều xóm nhỏ ven rạch xa chưa ai biết tới. Vì vậy khi đọc các con số về dân số hay diện tích ruộng của Nam Bộ thế kỷ 18, nên hiểu đó là phần nhà nước nắm được, thấp hơn thực tế, và tốc độ khai phá thật có lẽ còn nhanh hơn những gì sổ sách thể hiện.

Mở đất Bắc Bộ và mở đất Nam Bộ: khác nhau ở đâu

Đặt hai vùng cạnh nhau giúp hiểu vì sao làng quê Nam Bộ khác làng quê Bắc Bộ từ cảnh quan đến nếp sống:

Khía cạnhĐồng bằng sông HồngĐồng bằng Nam Bộ
Thời gian mở đất chínhHơn một nghìn năm, rất từ từKhoảng ba thế kỷ, khá nhanh
Công trình chủ đạoĐê ngăn lũ, đê biểnKênh đào dẫn nước, đi lại
Hình dạng làngLàng quần cư, có lũy tre bao quanhNhà trải dài theo sông rạch, kênh
Sở hữu ruộng đấtRuộng công làng xã khá nhiềuRuộng tư chiếm phần lớn, có điền chủ lớn
Phương tiệnĐi bộ, gánh, xe trâuGhe, xuồng là chính
Quan hệ với nước lũNgăn lũSống chung với lũ, đón phù sa

Những khác biệt này không phải do tính cách người hai miền, mà chủ yếu do điều kiện tự nhiên và lịch sử khai phá. Khi đất rộng, người ít, sông lũ hiền thì cách tổ chức làng tất yếu thoáng hơn; khi đất chật, người đông, lũ dữ thì làng phải chặt chẽ để cùng nhau giữ đê.

Điền chủ, tá điền và làm ăn trên đất rộng

Vì chính sách khai khẩn thoáng, ở phương Nam sớm xuất hiện những người có hàng trăm mẫu ruộng. Họ thường là người có vốn, có trâu, có ghe, chiêu mộ người không có gì trong tay đến làm, chia phần thóc theo thoả thuận. Người làm ruộng thuê như vậy gọi là tá điền. Quan hệ điền chủ – tá điền là nét nổi bật của nông thôn Nam Bộ suốt thế kỷ 19 và nửa đầu thế kỷ 20.

Cùng lúc, đất rộng cho phép nhiều gia đình nghèo tự khai một khoảnh nhỏ, lâu dần thành chủ ruộng. Người Nam Bộ có câu nói về sự dễ sống ở vùng đất mới, nơi cá tôm đầy sông, lúa trời mọc ở đồng trũng. Nhưng sự dễ sống ấy đi kèm khắc nghiệt: rừng rậm, thú dữ, muỗi mòng, bệnh tật. Câu ca "Đến đây xứ sở lạ lùng, chim kêu cũng sợ, cá vùng cũng kinh" ghi lại nỗi e dè của người mới đến.

Ở những vùng xa như U Minh, Cà Mau, câu nói "muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội như bánh canh" cho thấy đời sống người khẩn hoang khó đến mức nào. Những câu này không nhằm than thở mà là cách người xưa truyền cho nhau một kinh nghiệm: vùng đất giàu có nhưng phải có sức, có bạn, có ghe xuồng mới sống được.

Ghe xuồng, chợ nổi và nhà quay ra sông

Ở vùng đất mới chằng chịt sông rạch, ghe xuồng là phương tiện chính để đi khai phá: chở người, chở lúa giống, chở cây lá dựng nhà, và về sau chở lúa đi bán. Người đi khẩn hoang thường đi cả gia đình trên một chiếc ghe, gặp chỗ đất tốt thì ghé lại, dựng chòi, làm thử một mùa, được thì ở, không được thì đi tiếp.

Nhà ở vì thế quay mặt ra sông, sau nhà là vườn và ruộng. Nơi nhiều ghe gặp nhau, nhất là ở các ngã ba, ngã năm, ngã bảy sông, chợ họp ngay trên mặt nước. Chợ nổi Cái Răng, Phong Điền ở Cần Thơ hay Cái Bè ở Đồng Tháp là những dấu vết còn lại của nếp giao thương trên nước ấy.

Nhịp sống theo con nước cũng hình thành từ thời khai khẩn: đi chợ khi nước lớn cho ghe dễ chạy, kéo lưới khi nước ròng, gieo sạ khi nước rút. Nhiều từ ngữ Nam Bộ như "nước lớn", "nước ròng", "con nước", "vàm", "xẻo" là vốn từ của những người sống bằng sông, đến nay vẫn dùng hằng ngày.

Lúa gạo cũng đi bằng đường nước. Từ các vùng ruộng mới, ghe chở lúa về những trung tâm buôn bán như Mỹ Tho, Chợ Lớn, nơi các thương nhân, nhiều người gốc Hoa, xay xát và bán đi xa. Đến thế kỷ 19, lúa gạo Gia Định đã được chở ra miền Trung, miền Bắc những năm mất mùa. Mạng lưới ghe – chợ – kho lúa ấy là xương sống kinh tế của vùng đất mới, và cũng là lý do các con kênh đào sau này được coi trọng như vậy.

Dấu vết thời khai khẩn còn thấy hôm nay

Đình làng và tục thờ tiền hiền. Đình Nam Bộ thường thờ thần thành hoàng và các vị tiền hiền, hậu hiền — người có công mở đất, dựng làng. Lễ Kỳ yên hằng năm ở đình là dịp cả làng tụ lại, nhắc lại công người đi trước.

Tên đất theo quê gốc và theo cảnh vật. Nhiều tên xóm, tên ấp mang dấu quê gốc của người đến, hoặc tả đúng cảnh vật lúc khai phá: cây gì mọc nhiều, con gì xuất hiện, dòng nước hình dạng ra sao.

Nhà vườn ven sông. Kiểu nhà phía trước là sông, phía sau là vườn, xa hơn là ruộng là sơ đồ khai phá được giữ nguyên qua nhiều đời, đặc biệt ở các cù lao và ven sông Tiền, sông Hậu.

Ẩm thực của người đi xa. Những món như cá lóc nướng trui, mắm các loại, canh chua rau đồng gắn với điều kiện của người khai phá: có sẵn gì nấu nấy, làm mắm để để dành cá mùa nước nổi cho mùa khô.

Câu hỏi thường gặp

Người Việt bắt đầu vào khai khẩn Nam Bộ từ khi nào?

Từ khoảng đầu thế kỷ 17 đã có lưu dân người Việt đến vùng Đồng Nai – Gia Định. Dòng người tăng mạnh trong thế kỷ 17–18, và năm 1698 Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược, lập phủ Gia Định, đặt nền hành chính cho vùng đất mới.

Đất giồng là gì?

Giồng là dải đất cát pha cao hơn vùng xung quanh, thường là dấu vết của bờ biển cũ. Đất giồng không ngập lũ, có nước ngọt mạch nông, nên được chọn để ở, làm vườn, trồng hoa màu. Nhiều làng Khmer và làng Việt cũ nằm trên giồng.

Vì sao Nam Bộ có nhiều ruộng tư và điền chủ lớn?

Do đất rộng, người ít và chính sách khai khẩn thoáng: ai khai được bao nhiêu thì đăng ký bấy nhiêu. Người có vốn, có trâu, có ghe chiêu mộ người làm, mở rộng ruộng, nên dần hình thành những điền chủ có hàng trăm mẫu.

Câu "muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội như bánh canh" nói về vùng nào?

Câu này thường được gắn với vùng U Minh, Cà Mau và các vùng trũng phía tây nam, nơi rừng tràm, đầm lầy dày đặc. Nó ghi lại sự khắc nghiệt của đời sống người khẩn hoang chứ không nhằm chê bai vùng đất.

Tiền hiền, hậu hiền ở đình Nam Bộ có phải là thần không?

Không hẳn. Tiền hiền, hậu hiền là những người có thật có công khai phá đất và dựng làng, được dân làng thờ để ghi nhớ. Họ khác với thần thành hoàng, vị thần bảo hộ của làng thường được triều đình sắc phong.

Người Khmer có vai trò gì trong việc mở đất Nam Bộ?

Người Khmer đã sống lâu đời trên các giồng cát ở đồng bằng sông Cửu Long, có kinh nghiệm trồng lúa trên đất giồng và đất trũng. Lịch sử Nam Bộ là lịch sử cùng sống và trao đổi giữa các cộng đồng Việt, Khmer, Hoa và các dân tộc bản địa.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.