PhuNong.comPhú Nông
Lịch sử khai hoang, mở đất

Lịch sử khai hoang mở đất ở Việt Nam: người Việt lập làng trên đất mới qua các thời

Người Việt mở đất bằng cách nào: từ đắp đê vùng trũng sông Hồng, lấn biển, khai khẩn phương Nam, đào kênh miền Tây đến lên vùng đồi; ba loại đất khó và dấu vết để lại.

Aerial dawn view of a long earthen dike between green rice fields and grey tidal mudflats, one distant farmer walking along it

Khai hoang mở đất ở Việt Nam là quá trình kéo dài hơn một nghìn năm, đi theo ba hướng chính: đắp đê để giữ vùng trũng đồng bằng sông Hồng, quai đê lấn ra bãi bồi ven biển, và khai khẩn dần về phương Nam rồi lên vùng đồi, cao nguyên. Mỗi hướng gặp một loại đất khó riêng: đất ngập lũ, đất mặn, đất phèn, đất rừng dốc. Cách người xưa xử lý từng loại đất ấy là phần cốt lõi của kinh nghiệm nhà nông Việt.

Phần dưới đi theo dòng thời gian, từ những điền trang thời Trần, đồn điền thời Lê, lưu dân Đàng Trong, các công trình doanh điền và kênh đào thời Nguyễn, đến kênh xáng, đồn điền cao su và những vùng trũng phèn được đưa vào trồng lúa trong thế kỷ 20. Bài kể như một trang sử kinh tế, không bàn đúng sai chính trị, và dừng lại ở những gì việc mở đất để lại cho làng quê hôm nay.

Khai hoang, khẩn hoang, mở đất: mấy chữ này khác nhau ra sao

Trong sử cũ và trong lời kể ở làng, nhiều chữ được dùng gần như thay nhau, nhưng mỗi chữ có sắc thái riêng. Khai hoang hay vỡ hoang là phá đất bỏ không để trồng trọt: chặt cây, dọn cỏ, đào gốc, be bờ. Khẩn hoang và khai khẩn thường gắn với việc xin phép, đăng ký đất mới với nhà nước, nên hay gặp trong địa bạ và chiếu chỉ. Mở đất rộng hơn cả: không chỉ làm ruộng mà còn lập xóm, dựng đình, đặt tên làng.

Phân biệt như vậy giúp đọc tư liệu cho đúng. Một làng ghi "khai khẩn năm ấy" có thể đã có người ở từ mấy chục năm trước, chỉ đến lúc đó mới vào sổ. Ngược lại, một vùng được nhà nước "lập" ra trên giấy, như các vùng doanh điền thế kỷ 19, có khi phải mất cả thế hệ mới thành ruộng ổn định, vì đất mặn hay đất phèn không chịu cho lúa ngay mùa đầu.

Cũng cần tách mở đất với chuyện nhà nông dời chỗ ở. Phần lớn đất mới không phải đất trống hoàn toàn: có nơi là đất bãi người địa phương đã thả trâu, đánh cá; có nơi là địa bàn sinh sống của đồng bào các dân tộc từ lâu. Đọc lịch sử khai hoang tử tế là đọc cả những người đã ở đó trước và cách các lớp cư dân sống cạnh nhau.

Dòng thời gian: những mốc lớn của việc mở đất

Các mốc dưới đây là những sự kiện được sử cũ và giới nghiên cứu nhắc nhiều, xếp theo thời gian để thấy hướng đi chung:

  • Thời Lý – Trần (thế kỷ 11–14): đắp đê dọc sông Hồng và các sông lớn; theo Đại Việt sử ký toàn thư, năm 1266 nhà Trần cho các vương hầu chiêu tập dân nghèo không có ruộng đi khai khẩn đất bỏ hoang ven biển, lập điền trang.
  • Thời Lê sơ (thế kỷ 15): nhà nước đặt nhiều sở đồn điền, dùng binh lính và tù phạm khai phá đất hoang; ruộng mới làm xong thường được đưa vào chế độ ruộng công.
  • Thế kỷ 17–18: các chúa Nguyễn ở Đàng Trong chiêu mộ lưu dân vào vùng Thuận Quảng rồi xuống đồng bằng Nam Bộ; năm 1698 Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược, lập phủ Gia Định; dòng họ Mạc khai phá vùng Hà Tiên.
  • Đầu thế kỷ 19: nhà Nguyễn đào kênh Thoại Hà (1818) và kênh Vĩnh Tế (1819–1824), mở đường nước và đất ruộng cho miền Tây.
  • Năm 1828–1829: Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ tổ chức khai hoang bãi bồi ven biển, lập hai huyện Tiền Hải và Kim Sơn.
  • Cuối thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20: kênh đào bằng xáng ở miền Tây (kênh Xà No đào khoảng 1901–1903), lúa gạo Nam Kỳ thành hàng xuất khẩu; đồn điền cao su, cà phê ở miền Đông Nam Bộ và Tây Nguyên.
  • Nửa sau thế kỷ 20: các tuyến đê lấn biển nối nhau ở ven biển Bắc Bộ; vùng Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên được đào kênh dày, thau chua rửa phèn, chuyển thành vùng lúa lớn trong khoảng những năm 1980–1990.

Đọc liền một mạch thì thấy rõ: hướng mở đất không đổi, chỉ có công cụ đổi. Thế kỷ 13 là sức người và cuốc thuổng, thế kỷ 19 là hàng vạn dân phu đào kênh, thế kỷ 20 có thêm máy đào, máy bơm. Thứ không đổi là bài toán nước: giữ nước ngọt, đuổi nước mặn, xả nước phèn.

Đồng bằng sông Hồng: mở đất bằng đê và bãi bồi

Đồng bằng sông Hồng không phải đất phẳng sẵn sàng cấy lúa. Phần lớn là vùng trũng, mùa hè nước lũ tràn ngập. Người Việt cổ ban đầu ở rìa trung du, trên các gò đồi thấp, rồi tiến dần xuống đồng trũng khi biết đắp đê. Mỗi đoạn đê mới là một vùng ruộng mới được bảo vệ, và đê càng dài thì đồng bằng có người ở càng rộng.

Thời Trần, nhà nước đặt quan trông coi đê, huy động dân đắp đê dọc sông Hồng. Cùng lúc, các vương hầu nhà Trần được phép chiêu tập người không có ruộng ra khai phá bãi bồi ven biển, đắp đê ngăn mặn và lập ra các điền trang. Đó là lần đầu lấn biển được ghi trong sử như một chính sách, không chỉ là việc tự phát của từng làng.

Từ đó về sau, ven biển Bắc Bộ trở thành "mặt trận" mở đất lâu dài nhất. Phù sa sông Hồng và sông Đáy đổ ra biển bồi thành bãi; người dân trồng cói, sú vẹt để giữ bùn, chờ bãi cao rồi quai đê bao, rửa mặn, cấy lúa. Cách làm này còn tiếp diễn tới cuối thế kỷ 20 ở Kim Sơn, Nghĩa Hưng, Giao Thủy (nay thuộc Ninh Bình) và Tiền Hải (nay thuộc Hưng Yên).

Phương Nam: lưu dân, ghe thuyền và làng ấp mới

Từ thế kỷ 17, dòng người từ Thuận Hoá, Quảng Nam theo đường biển và đường bộ vào vùng Đồng Nai – Gia Định. Họ là nông dân nghèo, người tránh thuế, binh lính giải ngũ, cùng những nhóm người Hoa sang định cư. Ở đồng bằng sông Cửu Long đã có người Khmer sinh sống trên các giồng cát cao; người mới đến khai phá trước hết ven sông rạch, trên đất cao, rồi mới lấn dần vào vùng trũng.

Khác với Bắc Bộ, ở phương Nam đất không thiếu, chỉ thiếu người và thiếu cách trị nước. Các chúa Nguyễn để dân tự khai phá, khai được bao nhiêu thì đăng ký bấy nhiêu, nên đã hình thành những điền chủ có hàng trăm mẫu bên cạnh tá điền và người làm thuê. Kiểu sở hữu ấy, cùng với ruộng rộng và nước nổi theo mùa, tạo ra lối làm nông khác hẳn miền Bắc: ít đê, nhiều kênh, nhà ven sông, đi lại bằng ghe.

Phương Nam cũng là nơi nhà nước đầu tư lớn nhất vào kênh đào. Kênh Thoại Hà và kênh Vĩnh Tế thời Gia Long, Minh Mạng; rồi hàng loạt kênh đào bằng máy xáng cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Mỗi con kênh mới kéo theo một dãy nhà, một chợ, một làng dọc bờ — nhiều nơi đến nay vẫn mang tên kênh, tên xáng.

Ba loại đất khó và cách người mở đất xử lý

Gần như mọi vùng đất mới ở Việt Nam đều rơi vào một trong ba loại khó dưới đây. Cách xử lý dân gian đã có trước khoa học đất khá lâu, và phần lớn vẫn đúng khi đối chiếu với hiểu biết ngày nay:

Loại đấtVùng tiêu biểuCái khóCách làm truyền thống
Bãi bồi mặn ven biểnKim Sơn, Tiền Hải, Giao Thủy; ven biển Cà MauNước mặn, triều lên xuống, bùn non chưa chắcTrồng sú vẹt, cói giữ bùn; quai đê bao; rửa mặn bằng nước mưa và nước sông qua vài năm rồi mới cấy lúa
Đất phèn trũngĐồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên, U MinhĐất chua, nước đỏ quạch, ngập sâu mùa lũĐào mương, lên liếp, dẫn nước ngọt thau chua; giữ tràm trên đất phèn nặng; làm lúa mùa nổi thuận theo lũ
Đất đồi, đất rừngTrung du Bắc Bộ, miền Đông Nam Bộ, Tây NguyênDốc, xói mòn, thiếu nước mùa khôLàm ruộng bậc thang nơi có nguồn nước; nương rẫy luân canh; trồng cây lâu năm theo đường đồng mức

Điểm chung của cả ba là thời gian. Không vùng đất mới nào thành ruộng tốt sau một mùa. Người già ở các vùng lấn biển hay kể rằng ba năm đầu chỉ trồng cói, năm thứ tư thứ năm mới thử lúa, có khi mười năm lúa mới đứng. Hiểu điều này để đọc sử cho đúng: con số "lập được bao nhiêu mẫu" trong sách cũ thường là đất ghi sổ, chưa phải đất đã cho mùa ổn định.

Lên vùng đồi và cao nguyên trong thế kỷ 20

Hướng mở đất thứ ba đến muộn hơn: lên vùng đồi trung du và cao nguyên. Đầu thế kỷ 20, các đồn điền cao su lớn được lập ở miền Đông Nam Bộ, trên đất đỏ bazan và đất xám, cùng các đồn điền cà phê, chè ở Tây Nguyên và trung du Bắc Bộ. Lao động phần lớn là người được mộ từ đồng bằng Bắc Bộ và miền Trung, sống trong các làng phu; nhiều gia đình ở lại sau khi hết giao kèo và trở thành lớp cư dân đầu tiên của các vùng ấy.

Sau năm 1975, nhiều đợt di dân có tổ chức đưa người từ đồng bằng lên các vùng đồi ở Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ, Tây Bắc; cùng với đó là những dòng di cư tự do kéo dài sang cả thập niên 1990. Đây là sự kiện kinh tế – dân cư lớn, để lại những làng mang tên quê gốc của người đến, những bữa ăn trộn món nhiều miền, và những câu chuyện mở đất mà nhiều gia đình còn kể.

Vùng đồi khác hẳn đồng bằng ở chỗ đất đã có chủ từ lâu theo cách của đồng bào bản địa: rẫy luân canh, rừng thiêng, bến nước chung. Lịch sử khai phá vùng đồi vì vậy nên được đọc cùng lịch sử của người Ê Đê, Gia Rai, Ba Na, Mnông, Xtiêng, Mạ và các dân tộc khác, không coi đó là "đất trống".

Mở đất để lại gì cho làng quê hôm nay

Tục thờ người khai khẩn. Nhiều đình ở Nam Bộ thờ "tiền hiền khai khẩn, hậu hiền khai cơ" — người đến trước mở đất, người đến sau dựng làng. Ở Bắc Bộ, các làng ven biển lập đền thờ người chủ trì việc quai đê, như đền thờ Nguyễn Công Trứ ở Kim Sơn và Tiền Hải.

Tên đất kể chuyện mở đất. Tên làng có chữ Tân (mới), tên ấp theo số kênh, tên xóm theo quê gốc của người đến; ở miền Tây có cả tên theo thứ tự con kênh như Thứ Ba, Thứ Bảy, Thứ Mười Một. Đọc tên đất là đọc được thứ tự người ta đến.

Hình dạng ruộng đất. Ruộng Bắc Bộ ô nhỏ, bờ vùng bờ thửa; ruộng miền Tây kéo dài vuông góc với kênh, nhà quay ra mặt nước. Hình dạng ấy là dấu vết trực tiếp của cách khai phá: theo đê hay theo kênh.

Kinh nghiệm trị đất. Những câu như "nước phèn để lắng mới dùng", "đất mới phải đợi mưa rửa", cách lên liếp trồng cây ở miền Tây, cách trồng cói trước lúa ở vùng mặn đều là tri thức của người mở đất, nay được khoa học đất giải thích rõ cơ chế.

Một nếp tính cách. Người ta hay nói dân vùng đất mới cởi mở, quen chuyện đến và đi. Điều này khó đo, nhưng có thể thấy ở những làng nhiều họ, nhiều quê, ở bữa cơm trộn món ba miền và ở lối xưng hô gần gũi giữa người mới và người cũ.

Câu hỏi thường gặp

Người Việt bắt đầu khai hoang lấn biển từ khi nào?

Lấn biển tự phát có lẽ đã có từ rất sớm, nhưng mốc được ghi rõ trong sử là năm 1266, khi nhà Trần cho các vương hầu chiêu tập dân nghèo khai khẩn bãi bồi ven biển lập điền trang. Đợt lấn biển có tổ chức lớn nhất thời phong kiến là việc lập Tiền Hải và Kim Sơn năm 1828–1829.

Vì sao miền Tây Nam Bộ mở đất bằng kênh còn Bắc Bộ bằng đê?

Sông Hồng có lũ lớn, dữ, đến nhanh, nên phải đắp đê để giữ đồng ruộng và làng. Sông Cửu Long có Biển Hồ ở Campuchia điều tiết, lũ lên chậm và đều, nên người ta sống chung với lũ, dùng kênh để dẫn nước ngọt, thau chua, đi lại và chở lúa.

Đất mới khai hoang mất bao lâu mới trồng lúa được?

Tuỳ loại đất. Bãi bồi mặn thường phải trồng cói, sú vẹt và rửa mặn nhiều năm; người vùng lấn biển hay kể ba đến năm năm mới thử lúa. Đất phèn nặng có thể cần nhiều mùa lũ thau chua và hệ kênh mương dày mới cho lúa ổn định.

Tiền hiền và hậu hiền trong đình làng là ai?

Tiền hiền là những người có công đến trước khai phá đất, lập xóm; hậu hiền là những người đến sau có công dựng làng, mở chợ, xây đình. Tục thờ này phổ biến ở Nam Bộ và miền Trung, là cách làng ghi nhớ người mở đất, không gắn với một nhân vật cụ thể nào.

Có nên gọi vùng đất được khai phá là đất trống không?

Không nên. Nhiều vùng khi người Việt đến đã có cư dân khác sống, như người Khmer trên các giồng cát Nam Bộ hay đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên. Cách viết lịch sử thận trọng là kể cả các lớp cư dân và cách họ sống cạnh nhau.

Muốn tìm hiểu lịch sử khai hoang của làng mình thì bắt đầu từ đâu?

Bắt đầu từ đình làng, nhà thờ họ và gia phả: tên người tiền hiền, năm dựng đình, quê gốc của các dòng họ. Sau đó đối chiếu với địa chí của tỉnh và lời kể của người già. Tên xóm, tên kênh, tên cánh đồng thường giữ dấu vết rõ nhất.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.