PhuNong.comPhú Nông
Lịch sử khai hoang, mở đất

Đất lấn biển ở Bắc Bộ: vì sao bãi bồi phải qua sú vẹt, cói rồi mới thành ruộng lúa

Bãi bồi ven biển Bắc Bộ thành ruộng qua bốn chặng: bùn trần, sú vẹt, cói, lúa. Cách người xưa quai đê, hợp long, rửa mặn và đời sống những năm đầu trên đất mới.

Group of farmers seen from behind carrying baskets of clay along a half-built earthen dike on a grey coastal mudflat at low tide

Bãi bồi ven biển Bắc Bộ không thành ruộng lúa ngay khi được quai đê. Theo kinh nghiệm của người lấn biển, đất phải đi qua bốn chặng: bãi bùn trần, bãi sú vẹt, ruộng cói, rồi mới đến ruộng lúa — mỗi chặng kéo dài vài năm đến vài chục năm. Cây ngập mặn giữ bùn cho bãi cao lên, cói chịu mặn cho đất ngọt dần, và chỉ khi nước mưa, nước sông đã rửa bớt muối trong đất thì cây lúa mới đứng được.

Cách làm này hình thành qua nhiều thế kỷ ở dải bờ biển từ Hải Phòng, Hưng Yên (Thái Bình cũ) xuống Ninh Bình (gồm cả Nam Định cũ). Bài kể lại từng chặng, việc quai đê và hợp long, đời sống người ra bãi, và cách hôm nay người ta nhìn lại những vùng đất ấy khi bãi bồi và rừng ngập mặn được coi trọng hơn trước.

Phù sa sông Hồng và sông Đáy bồi biển thế nào

Mỗi mùa lũ, sông Hồng và các nhánh của nó mang theo một lượng phù sa rất lớn, đổ ra biển qua các cửa Ba Lạt, Trà Lý, Lạch Giang, Đáy. Ra gần cửa, dòng chảy chậm lại, gặp nước mặn, hạt phù sa kết lại và lắng xuống. Sóng và dòng ven bờ dồn bùn thành những bãi thấp, lúc triều xuống lộ ra, lúc triều lên chìm dưới nước.

Không phải đoạn bờ nào cũng bồi. Vùng cửa Đáy ở Kim Sơn và Nghĩa Hưng, vùng cửa Ba Lạt ở Giao Thủy và Tiền Hải được bồi khá nhanh, nhưng có những đoạn ở giữa như bờ biển Hải Hậu lại bị sóng ăn vào, phải giữ bằng đê và kè. Người lấn biển vì thế không làm ở đâu cũng được: họ đọc bãi, xem bãi nào đang lên, bãi nào đang lở, rồi mới quyết định quai.

Người già vùng biển phân biệt bãi bằng mắt và bằng chân: bùn non lún tới đầu gối, bùn đã "chín" thì chân chỉ ngập mắt cá; bãi có cua còng đào hang dày là bãi đã lâu năm; bãi có cây con mọc tự nhiên là bãi đã đủ cao để giữ cây. Những dấu hiệu ấy đến nay vẫn được người làm nghề trên bãi triều dùng hằng ngày.

Bốn chặng của một bãi bồi: dấu hiệu và việc của người

Dưới đây là bốn chặng mà người lấn biển hay kể, kèm dấu hiệu nhận ra và việc con người làm ở từng chặng. Thời gian chỉ là mức thường gặp, mỗi bãi mỗi khác:

ChặngDấu hiệu nhận raViệc của ngườiThời gian thường gặp
Bãi bùn trầnNgập mỗi con triều, bùn nhão, chưa có câyCào ngao, bắt cáy, đặt đáy; chưa làm gì được trên mặt bãiNhiều năm, tuỳ tốc độ bồi
Bãi sú vẹtCây ngập mặn mọc tự nhiên hoặc được trồng, bùn cao dầnTrồng thêm sú, vẹt, bần để giữ bùn; đánh bắt dưới tán câyMột đến vài chục năm
Ruộng cóiĐã có đê bao, ngập theo cống, đất còn mặnCấy cói, nuôi cá tôm trong ao đầm, dẫn nước mưa và nước sông vào rửa mặnVài năm đến hơn chục năm
Ruộng lúaĐất đã ngọt ở tầng mặt, có kênh dẫn nước ngọtCấy lúa chịu mặn trước, sau dần sang lúa thường; đắp bờ vùng bờ thửaỔn định sau nhiều vụ

Bốn chặng ấy giải thích vì sao ở các huyện cũ ven biển, đi từ trong ra ngoài người ta lần lượt gặp làng cũ với ruộng lúa lâu đời, rồi đến ruộng lúa mới, ruộng cói, đầm nuôi, và cuối cùng là bãi sú vẹt ngoài đê. Cảnh quan ấy chính là dòng thời gian của việc lấn biển được trải ra trên mặt đất.

Sú vẹt đi trước: giữ bùn cho bãi cao lên

Cây ngập mặn là "người mở đường" của mọi cuộc lấn biển. Rễ chằng chịt của sú, vẹt, bần, mắm làm dòng nước chậm lại, bùn lắng xuống dưới tán nhiều hơn so với bãi trống. Người dân hiểu điều này từ rất sớm, nên ở nhiều làng có lệ giữ cây ngoài bãi, không cho chặt bừa, và có năm làng còn cùng nhau trồng thêm.

Ngoài việc giữ bùn, rừng ngập mặn còn làm hai việc mà người lấn biển cần: chắn sóng cho đê và nuôi sống người ra bãi. Đê có dải sú vẹt phía ngoài thì ít bị sóng đánh lở chân hơn hẳn đê trơ trọi. Dưới tán cây là cua, cáy, tôm, cá, ốc — nguồn ăn chính của những gia đình mới ra bãi, khi ruộng chưa cho hạt thóc nào.

Ngày nay khoa học về bờ biển xác nhận phần lớn những gì người xưa đúc kết: rừng ngập mặn làm giảm năng lượng sóng, giữ trầm tích và giúp bãi cao lên. Điều khác là hôm nay người ta không còn coi rừng ngập mặn chỉ là chặng chuyển tiếp để rồi phá đi làm ruộng, mà giữ lại như đai phòng hộ lâu dài phía ngoài đê.

Quai đê và hợp long: chặng nguy hiểm nhất

Khi bãi đã đủ cao, người ta quai một con đê bao vòng ra ngoài. Ngày trước đê đắp hoàn toàn bằng sức người: đào đất sét ở chân bãi, gánh bằng quang gánh, đổ thành từng lớp rồi nện chặt. Cả làng, có khi cả mấy làng, cùng ra đắp trong mùa khô, tránh mùa bão. Người ta chia đoạn theo xóm, theo họ, đoạn nào đắp chậm thì cả tuyến phải chờ.

Việc khó nhất là hợp long: nối hai đầu đê lại để khép kín vòng bao. Khi khoảng hở hẹp lại, nước triều dồn qua đó rất mạnh, có thể cuốn cả đất vừa đổ xuống. Kinh nghiệm truyền miệng là chọn ngày con nước kém, khi biên độ triều nhỏ nhất, chuẩn bị sẵn thật nhiều đất, cọc tre, bó cành, rồi làm liền một mạch trong lúc nước ròng. Hợp long thành công là ngày vui của cả vùng.

Sau khi khép đê, người ta đặt cống để điều tiết nước: mở cống cho nước mặn ra khi triều xuống, đóng lại khi triều lên, dẫn nước mưa và nước sông vào rửa đất. Con đê vừa quai còn yếu, phải theo dõi suốt mấy mùa bão đầu tiên; chỗ nào thẩm lậu, sạt mái phải đắp ngay. Nhiều vùng có tục đi tuần đê ban đêm khi có bão, việc này còn giữ đến gần đây.

Cói, cây chịu mặn làm nên một nghề

Trong vòng đê mới, đất còn mặn, lúa thường chưa sống được. Cây được cấy đầu tiên là cói — loài cây chịu được nước lợ, lớn nhanh, cắt được nhiều lứa trong năm. Cói vừa cho nguồn thu sớm, vừa giúp đất tơi, rễ và thân mục làm tăng chất hữu cơ, cùng với nước mưa rửa dần muối ra khỏi tầng đất mặt.

Từ cây cói, cả một nghề thủ công lớn lên ở các vùng lấn biển: dệt chiếu, đan làn, đan thảm, đan túi. Kim Sơn ở Ninh Bình là nơi nghề cói được nhắc tới nhiều nhất, nhưng Nga Sơn ở Thanh Hoá, Tiền Hải và Thái Thụy ở vùng Thái Bình cũ cũng có truyền thống tương tự. Nghề cói vì thế là một "phụ phẩm văn hoá" của chặng rửa mặn: không có những năm đất chưa ngọt, có lẽ đã không có cả một nghề thủ công nuôi sống hàng vạn người ở vùng ven biển.

Khi đất đã ngọt hơn, người ta thu hẹp diện tích cói, chuyển dần sang lúa. Ban đầu là những giống lúa chịu mặn của địa phương cấy ở chân cao, sau đó mới đến các giống phổ thông. Quá trình chuyển đổi này không đi một chiều: những năm hạn, mặn ngấm ngược lên, nhà nông lại phải quay về cói hoặc nuôi thuỷ sản ở chân ruộng thấp.

Kinh nghiệm của người làm ruộng mới cũng đáng chú ý. Họ không cày sâu trên đất mới quai, vì lật lớp đất dưới lên có thể đưa muối và chất chua lên mặt; họ giữ nước trên ruộng lâu hơn để ép mặn, và xem cây cỏ dại mọc trên bờ để đoán đất đã ngọt tới đâu. Khi bờ ruộng mọc nhiều cỏ thường của vùng nước ngọt thay cho cỏ chịu mặn, người ta biết có thể thử lúa.

Đời sống người ra bãi những năm đầu

Gia đình ra bãi mới thường dựng lều, sau mới làm nhà đất, nhà tranh trên nền đắp cao. Nước ngọt là thứ quý nhất: hứng nước mưa vào chum, đào ao trữ nước, có lúc phải chở nước từ làng cũ ra. Bữa ăn dựa vào bãi triều nhiều hơn vào ruộng: cáy, cua, cá bống, rau dại chịu mặn. Những món như mắm cáy, canh cua rau má đất mặn còn lại trong bếp các vùng ven biển đến nay.

Lao động chia theo con nước. Triều xuống thì ra bãi, triều lên thì về đắp bờ, cắt cói, đan lát. Đàn ông đi xa đánh bắt hoặc làm thuê, đàn bà và trẻ con ở nhà giữ ruộng cói, mò ốc, cào ngao. Lịch sinh hoạt trong một ngày vì thế không theo mặt trời mà theo thuỷ triều, khác hẳn nhịp sống của các làng lúa nội đồng.

Đời sống cộng đồng cũng hình thành theo nhu cầu. Các nhóm cùng quai một vòng đê gắn với nhau bằng nghĩa vụ giữ đê, chia nước, mở cống. Về sau, các nhóm ấy thành xóm, dựng miếu, dựng đình; nhiều nơi lập miếu thờ người có công quai đê, hằng năm làm giỗ chung. Ký ức chung về những ngày khó khăn là thứ giữ cộng đồng lại khi ruộng đã thành và đời sống đã khá hơn.

Nhìn lại lấn biển hôm nay

Đến cuối thế kỷ 20, ven biển Bắc Bộ đã có nhiều lớp đê nối nhau ra phía biển, có nơi khoảng cách giữa đê cũ thời Nguyễn và đê ngoài cùng tính bằng vài cây số. Diện tích tăng thêm ấy nay là ruộng lúa, ao nuôi, làng mới. Cùng lúc, hiểu biết về bờ biển cũng đổi: bãi bồi và rừng ngập mặn được nhìn nhận là vùng có giá trị tự nhiên riêng, không chỉ là đất chờ khai thác.

Vùng cửa Ba Lạt ở Giao Thủy là ví dụ rõ: bãi bồi và rừng ngập mặn ở đây được bảo tồn thành Vườn quốc gia Xuân Thủy, là khu Ramsar đầu tiên của Việt Nam (được công nhận năm 1989), nơi dừng chân của nhiều loài chim di cư. Bãi ngoài đê vẫn bồi, nhưng phần lớn được giữ làm rừng và bãi nuôi ngao thay vì quai thành ruộng.

Với người đọc hôm nay, câu chuyện lấn biển có hai bài học song song. Một là kinh nghiệm đọc đất, đọc nước rất tinh của người xưa, đến nay vẫn đúng. Hai là giới hạn: không phải bãi nào cũng nên quai, và giữ một dải rừng ngập mặn phía ngoài đê là cách để những cánh đồng ông cha để lại được an toàn trước bão và nước biển dâng.

Câu hỏi thường gặp

Bao lâu thì một bãi bồi có thể quai đê lấn biển?

Không có con số chung. Tuỳ tốc độ bồi của từng cửa sông, bãi có thể mất từ vài năm đến vài chục năm để đủ cao, có cây ngập mặn bám chắc. Người lấn biển xưa quyết định dựa vào độ chắc của bùn, cây mọc tự nhiên và mức triều ngập.

Vì sao phải trồng cói trước khi cấy lúa trên đất lấn biển?

Vì đất trong đê mới còn mặn, lúa thường không sống được. Cói chịu nước lợ, cho thu hoạch sớm và cùng với nước mưa, nước sông giúp tầng đất mặt bớt mặn dần. Khi đất đủ ngọt, người ta mới chuyển sang cấy lúa.

Hợp long đê là gì?

Hợp long là việc nối hai đầu đê để khép kín vòng đê bao. Đây là lúc khó nhất vì nước triều dồn qua chỗ hở rất mạnh. Kinh nghiệm xưa là chọn con nước kém, chuẩn bị sẵn vật liệu và làm liên tục trong lúc nước ròng.

Có phải bờ biển Bắc Bộ đâu cũng đang bồi?

Không. Vùng cửa sông Đáy và cửa Ba Lạt bồi khá nhanh, nhưng một số đoạn như bờ biển Hải Hậu lại bị xói lở, phải giữ bằng đê và kè. Vì vậy người lấn biển xưa phải đọc bãi, chỉ quai ở nơi đất đang lên.

Rừng ngập mặn có tác dụng gì với đê biển?

Dải rừng ngập mặn phía ngoài đê làm giảm sức sóng đánh vào thân đê, giữ bùn làm bãi cao lên và là nơi sinh sống của nhiều loài thuỷ sản. Người lấn biển xưa đã biết giữ cây ngoài bãi; khoa học bờ biển hôm nay xác nhận điều đó.

Có thể xem dấu vết lấn biển ở đâu?

Đi từ làng cũ ra phía biển ở các vùng Kim Sơn, Nghĩa Hưng, Giao Thủy, Tiền Hải, bạn sẽ gặp lần lượt ruộng lúa cũ, ruộng mới, ruộng cói, đầm nuôi và bãi ngập mặn ngoài đê. Các tuyến đê cũ thường đã thành đường làng.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.