Ở các đồng bằng lớn của Việt Nam, máy làm đất bắt đầu thay trâu cày rõ rệt từ thập niên 1990 và gần như thay hẳn trong khoảng hai thập niên đầu thế kỷ 21; ở Nam Bộ, nơi ruộng rộng, quá trình này đi nhanh hơn Bắc Bộ. Cùng với con trâu, nhiều thứ trong làng cũng đổi: nhịp làm đồng, cách đổi công, tuổi thơ chăn trâu, các nghề phụ như đóng cày, đẽo ách, và cả kho từ ngữ của bãi chăn.
Bài này kể những thay đổi ấy một cách trung tính, như một chương của lịch sử nghề nông: máy về làng thế nào, việc gì đổi, nghề gì mất, cái gì còn lại, và ở đâu con trâu vẫn kéo cày. Các mốc thời gian nêu ở mức khái quát vì mỗi vùng, mỗi làng chuyển đổi ở thời điểm khác nhau.
"Con trâu sắt" về làng
Những chiếc máy cày tay, máy xới hai bánh đầu tiên về nhiều làng đồng bằng được người dân gọi là "trâu sắt". Cái tên ấy cho thấy cách người nông dân đón nhận máy: nó là một con trâu mới, làm cùng việc nhưng bằng sắt và dầu. Câu hỏi đầu tiên người ta đặt ra cho máy cũng là câu hỏi đặt cho trâu: kéo có khoẻ không, lội ruộng sâu có lún không, có bền không, nuôi có tốn không.
Ở đồng bằng sông Cửu Long, ruộng rộng, thửa lớn, máy kéo bốn bánh và máy làm đất cỡ lớn có điều kiện phát huy sớm. Ở đồng bằng sông Hồng, ruộng nhỏ, bờ vùng bờ thửa chằng chịt, máy cày tay nhỏ gọn hợp hơn, và việc chuyển đổi đi theo từng xã, từng thôn.
Cũng như mọi đổi thay kỹ thuật, máy không đến cùng lúc với mọi nhà. Thời gian đầu, một làng có vài chiếc máy, chủ máy đi cày thuê cho cả xóm, trong khi nhiều nhà vẫn giữ trâu. Có giai đoạn trâu và máy cùng làm trên một cánh đồng: máy cày ruộng rộng, trâu cày góc ruộng, thửa nhỏ máy khó vào.
Rồi máy gặt đập liên hợp xuất hiện, tiếp theo là máy cấy, máy sấy. Đến khoảng thập niên 2010, ở phần lớn các vùng lúa đồng bằng, việc làm đất và thu hoạch đã được cơ giới hoá ở mức cao, và con trâu không còn là sức kéo của mùa vụ.
Những việc đổi khi trâu rời đồng
Bảng dưới đây so sánh một số việc trong làng trồng lúa đồng bằng trước và sau khi cơ giới hoá. Mỗi làng có mức độ khác nhau; đây là xu hướng chung được ghi nhận rộng rãi.
| Việc | Thời còn trâu cày | Khi máy đã thay |
|---|---|---|
| Làm đất | Nhiều ngày, phụ thuộc số trâu trong xóm | Một hai ngày, thuê máy theo sào |
| Thời vụ | Kéo dài vì phải chờ lượt trâu | Gọn hơn, cả cánh đồng xuống giống gần cùng lúc |
| Đổi công | Nhà có trâu đổi sức kéo lấy công cấy, gặt | Ít đổi công, chủ yếu thuê dịch vụ |
| Việc của trẻ | Chăn trâu, cắt cỏ sau giờ học | Đi học, học thêm, ít việc đồng |
| Tài sản lớn của nhà | Con trâu | Máy móc, đất, vốn sản xuất |
| Bãi chăn, bờ cỏ | Giữ lại để chăn trâu | Dùng trồng màu, mở đường, làm nhà |
| Phân bón | Phân trâu, phân chuồng ủ | Phân hoá học chiếm phần lớn |
Những đổi thay này đi cùng các thay đổi lớn khác của nông thôn: người trẻ đi làm ở thành phố và khu công nghiệp, diện tích canh tác của mỗi hộ, cách tổ chức sản xuất sau khi cơ chế khoán sản phẩm đến hộ được áp dụng cuối thập niên 1980. Máy thay trâu là một phần của bức tranh ấy, không phải toàn bộ.
Nhịp làng đổi theo
Khi còn trâu, mùa làm đất là mùa cả làng cùng bận. Tiếng người quát trâu, tiếng roi, tiếng bì bõm trên ruộng nước kéo dài nhiều tuần. Nhà có trâu cày cho nhà không có trâu, đổi lại bằng công cấy, công gặt; nhờ thế nhiều gia đình gắn với nhau bằng một sợi dây lao động.
Khi máy về, mùa làm đất ngắn lại, ồn hơn nhưng nhanh hơn. Người nông dân thuê máy theo sào, trả bằng tiền, không còn phải chờ lượt trâu hay đổi công. Thời gian rảnh dôi ra được dùng cho việc khác: làm thuê, buôn bán, đi làm xa, hoặc chăm vườn, chăm chuồng.
Máy cũng sinh ra những nghề mới trong làng. Người có máy làm đất, máy gặt trở thành "chủ máy", đi làm dịch vụ cho cả xã, có khi theo mùa gặt đi sang tỉnh khác, giống như người chăn vịt chạy đồng theo lịch lúa. Thợ sửa máy nông nghiệp mở tiệm ở đầu làng thay chỗ thợ đóng cày ngày trước. Theo một nghĩa nào đó, vai trò của nhà có trâu trong xóm xưa đã chuyển sang nhà có máy: người nắm sức kéo vẫn là người được cả xóm chờ đến lượt mỗi mùa làm đất.
Một số người già nhận thấy làng yên hơn vào buổi chiều: không còn trẻ dắt trâu về, không còn tiếng mõ trâu, không còn đống un khói cạnh chuồng mùa đông. Chuồng trâu trong nhiều nhà được sửa thành kho, bếp, chỗ để xe máy.
Đổi thay ấy có hai mặt. Người nông dân bớt nặng nhọc, trẻ có nhiều thời gian đi học, mùa vụ chủ động hơn. Đồng thời, một phần các mối quan hệ dựa trên đổi công, một phần ký ức chung của làng cũng mờ đi. Kể lại cả hai mặt là cách nhìn công bằng với lịch sử.
Những nghề và tri thức mất dần cùng con trâu
Thợ đóng cày, đẽo ách. Mỗi vùng từng có thợ chuyên làm cày gỗ, ách trâu, bừa răng tre hay răng sắt. Khi trâu không cày nữa, nghề này gần như không còn khách, và kỹ thuật chọn gỗ, uốn bắp cày chỉ còn ở một số người lớn tuổi.
Người xem trâu, thầy trâu. Ở chợ trâu, những người biết xem trâu được tìm đến để chọn giúp; trong làng có người biết chữa bệnh trâu bằng kinh nghiệm. Lớp tri thức ấy phần lớn chưa được ghi chép.
Tiếng lệnh và tiếng gọi trâu. Mỗi vùng có những tiếng bảo trâu đi, dừng, rẽ, lùi; mỗi nhà có cách gọi riêng. Đây là một mảng từ vựng địa phương mất nhanh nhất vì không còn ai dùng hằng ngày.
Kỹ thuật cày trâu. Cày trâu đẹp đòi hỏi giữ luống thẳng, đều độ sâu, biết quay đầu ở bờ. Người cày giỏi từng được cả làng nể. Kỹ năng này nay chỉ còn ở người lớn tuổi và ở những bản vùng cao.
Trò vui bãi chăn. Thả diều sáo, đánh trận giả, nướng khoai trên bãi chăn gắn với tuổi thơ chăn trâu. Khi trẻ không còn ra bãi, nhiều thú vui ấy chỉ còn trong lễ hội hay hoạt động trải nghiệm.
Rơm rạ, phân trâu và một vòng tuần hoàn đã đổi
Thời còn trâu cày, ruộng lúa, con trâu và đống rơm nối với nhau thành một vòng khép kín. Rơm sau gặt được phơi khô, đánh đống ở góc sân để trâu ăn qua mùa đông; phân trâu cùng rơm lót chuồng được ủ thành phân chuồng, rồi lại bón trở lại ruộng. Gốc rạ còn trên ruộng được cày vùi xuống đất. Gần như không thứ gì bị bỏ phí.
Khi trâu rời đồng, vòng ấy đứt ở nhiều chỗ. Rơm không còn ai cần cho trâu ăn, nhiều nơi đốt ngay trên ruộng sau gặt, khói bay về làng, về thành phố gần đó vào mùa gặt. Phân chuồng ít đi, phân hoá học thay vào. Đống rơm vàng ở góc sân, một hình ảnh quen thuộc của làng quê, thưa dần.
Những năm gần đây, nhiều nơi tìm cách dùng lại rơm rạ: trồng nấm rơm, làm thức ăn ủ cho bò nuôi nhốt, cuộn rơm bán cho vùng chăn nuôi, ủ làm phân hữu cơ. Đó là những câu chuyện kỹ thuật thuộc về các trang trồng trọt, chăn nuôi. Từ góc lịch sử, có thể thấy con trâu từng là một mắt xích trong hệ canh tác, và khi mắt xích ấy rời đi, cả hệ phải tìm cách sắp xếp lại.
Con trâu hôm nay ở đâu
Con trâu không biến mất mà đổi vai và đổi vùng. Theo số liệu thống kê, đàn trâu cả nước giảm dần trong hai thập niên đầu thế kỷ 21, và phần lớn số trâu còn lại tập trung ở trung du, miền núi phía Bắc. Ở đó, ruộng bậc thang hẹp và dốc khiến máy lớn khó vào, nhiều gia đình vẫn dùng trâu cày, và con trâu vẫn là tài sản lớn.
Ở đồng bằng, phần lớn trâu còn lại được nuôi lấy thịt, nuôi nhốt hoặc thả ở bãi ven sông. Một số làng du lịch nông thôn giữ vài con trâu cho khách xem cày ruộng, cưỡi trâu, chụp ảnh. Những hoạt động này giúp trẻ thành phố biết đến con trâu, nhưng cũng nên được làm với sự tôn trọng con vật, không bắt trâu làm việc quá sức vì khách.
Con trâu còn sống mạnh trong văn hoá: trong lễ hội chọi trâu ở một số địa phương, trong lễ hội của đồng bào Tây Nguyên, trong tranh, trong ca dao học ở trường, trong biểu tượng của các sự kiện thể thao, văn hoá. Theo nghĩa ấy, "đầu cơ nghiệp" đã chuyển từ ruộng sang ký ức chung.
Với người làm nghiên cứu, những bản vùng cao còn cày trâu là nơi quan sát được trọn vẹn một hệ canh tác dùng sức kéo gia súc đang vận hành: cách chọn trâu, cách cày ruộng bậc thang hẹp, cách chia trâu giữa các gia đình. Ghi lại điều ấy bây giờ dễ hơn nhiều so với dựng lại sau khi nó đã mất.
Giữ lại ký ức thời trâu cày: việc làm được ngay
Nhiều tri thức của thời trâu cày còn nằm trong trí nhớ của thế hệ ông bà. Ghi lại chúng không cần thiết bị đắt tiền, chỉ cần thời gian và sự kiên nhẫn.
- Hỏi ông bà, cha mẹ về con trâu cuối cùng của nhà: mua năm nào, tên gì, bán khi nào, vì sao bán.
- Ghi âm các tiếng lệnh, tiếng gọi trâu của vùng mình, kèm giải thích nghĩa từng tiếng.
- Chụp ảnh những nông cụ còn sót lại trong nhà như cày, ách, mõ trâu, kèm lời kể ai làm, dùng thế nào.
- Vẽ lại sơ đồ bãi chăn, vũng trâu đằm, chuồng trâu cũ của xóm theo trí nhớ người già.
- Gửi bản ghi cho các thành viên trong họ, trường học trong làng, hoặc góp vào các nhà trưng bày ký ức địa phương nếu có.
Một cuốn sổ nhỏ ghi chuyện con trâu của nhà, đặt cạnh album ảnh gia đình, có thể là thứ con cháu đọc lại nhiều lần nhất về sau, vì nó kể một nếp sống mà chúng sẽ không còn thấy tận mắt.
Câu hỏi thường gặp
Máy cày bắt đầu về làng ở Việt Nam từ khi nào?
Máy kéo đã có mặt ở một số nông trường, hợp tác xã từ giữa thế kỷ 20, nhưng việc máy làm đất phổ biến đến từng hộ ở đồng bằng chủ yếu diễn ra từ thập niên 1990 trở đi. Mỗi vùng chuyển đổi ở thời điểm khác nhau, Nam Bộ thường sớm và nhanh hơn Bắc Bộ.
Vì sao gọi máy cày tay là "trâu sắt"?
Vì người nông dân hiểu chiếc máy qua con vật đã quen: máy làm đúng việc của con trâu là kéo cày, bừa đất, nhưng bằng sắt và chạy bằng dầu. Cái tên vừa dí dỏm vừa cho thấy máy đã kế thừa vị trí của con trâu trong nhà nông.
Máy thay trâu có làm nông dân mất việc không?
Máy giảm mạnh lượng công lao động cần cho làm đất và gặt, nên nhiều người chuyển sang làm việc khác, đi làm xa hoặc làm dịch vụ máy nông nghiệp. Đồng thời nông dân bớt nặng nhọc và chủ động thời vụ hơn. Tác động cụ thể khác nhau theo từng vùng và từng gia đình.
Ở đâu còn thấy trâu cày ruộng?
Chủ yếu ở các bản vùng cao phía Bắc có ruộng bậc thang, như ở Lào Cai, Lai Châu, Sơn La, Tuyên Quang, Điện Biên, nơi ruộng hẹp và dốc. Ở đồng bằng, trâu cày chỉ còn rải rác ở thửa nhỏ, hoặc trong các hoạt động trải nghiệm của làng du lịch nông thôn.
Nuôi trâu ngày nay để làm gì?
Ở đồng bằng, trâu chủ yếu được nuôi lấy thịt. Ở miền núi, trâu vừa cày ruộng vừa là tài sản để dành của gia đình. Một số nơi giữ trâu cho du lịch và lễ hội. Kỹ thuật nuôi trâu hiện đại thuộc về các trang chăn nuôi chuyên sâu, không nằm trong phạm vi bài này.
Làm sao kể cho trẻ hiểu thời trâu cày?
Tốt nhất là để ông bà kể chuyện con trâu của nhà mình, kèm vài món đồ cũ còn giữ được. Nếu có dịp, cho trẻ xem trâu cày thật ở một bản vùng cao hay một làng du lịch nông thôn, rồi hỏi trẻ thấy khác máy cày ở chỗ nào.