PhuNong.comPhú Nông
Nếp sống làng quê theo mùa

"Tháng Giêng là tháng ăn chơi": làng quê xưa làm gì sau Tết và vì sao câu ca ra đời

Câu ca "Tháng Giêng là tháng ăn chơi" mô tả đúng một quãng lịch mùa vụ Bắc Bộ. Làng xưa làm gì trong tháng Giêng, hội xuân nào mở, việc đồng nào vẫn chờ.

Villagers in warm jackets gathered loosely in a stone courtyard in front of an old wooden communal house during a spring festival, peach blossoms, viewed from a distance

"Tháng Giêng là tháng ăn chơi" là câu mở đầu một bài ca dao kể việc đồng theo tháng; nó mô tả đúng quãng lúa chiêm ở Bắc Bộ đã cấy xong mà chưa đến lúc chăm bón nặng, nên làng có thời gian dự hội, thăm nhau. Câu ca không khuyên ăn chơi, cũng không chê người xưa lười; nó ghi lại một khoảng thở hiếm hoi giữa hai mùa làm lụng.

Bài này giải nghĩa câu ca trong toàn bài, chỉ ra tháng Giêng ở làng xưa thực sự gồm những việc gì, vì sao hội xuân dồn vào tháng này, và câu ca còn đúng đến đâu khi lịch mùa vụ đã đổi.

Câu ca đầy đủ và cách đọc nó như một lịch mùa vụ

Bản quen thuộc nhất của bài ca dao bắt đầu: "Tháng Giêng là tháng ăn chơi / Tháng Hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà / Tháng Ba thì đậu đã già / Ta đi ta hái về nhà phơi khô / Tháng Tư đi tậu trâu bò / Để ta sắp sửa làm mùa tháng Năm". Bài còn kéo dài nữa, có nhiều dị bản khác nhau giữa các vùng, nhưng phần mở đầu này gần như ai cũng thuộc.

Đọc liền cả đoạn mới thấy tháng Giêng "ăn chơi" là đối lập với các tháng sau: tháng Hai trồng màu, tháng Ba thu đậu, tháng Tư lo sức kéo, tháng Năm vào mùa. Bài ca vì vậy là một cuốn lịch truyền miệng, giúp người không biết chữ nhớ thứ tự công việc. Chữ "ăn chơi" ở đầu là để làm nổi những tháng bận phía sau.

Một dị bản khác lại mở bằng "Tháng Chạp là tiết trồng khoai / Tháng Giêng trồng đậu, tháng Hai trồng cà", cho thấy ở vùng khác, tháng Giêng không hẳn là tháng rảnh. Sự khác nhau ấy chính là dấu vết của những chân đất, những vùng khí hậu khác nhau, chứ không phải câu nào đúng câu nào sai.

Vì sao tháng Giêng là quãng rảnh nhất của nhà nông Bắc Bộ

Lúa chiêm ở đồng bằng Bắc Bộ xưa được gieo mạ vào khoảng tháng Mười, tháng Một âm lịch và cấy trong những tháng rét cuối năm. Đến tháng Giêng, phần lớn ruộng đã cấy xong, lúa đang hồi xanh trong tiết lạnh và mưa phùn; lúc này cây lúa sinh trưởng chậm, chưa cần làm cỏ, bón thúc nhiều. Ruộng màu cũng chưa đến lúc thu. Nói cách khác, cây trồng đang "tự lo", người tạm có thời gian.

Thời tiết cũng góp phần. Tháng Giêng âm lịch thường rơi vào cuối tháng Một, tháng Hai dương lịch, là thời kỳ nồm ẩm, mưa phùn ở Bắc Bộ. Trời không rét đậm như tháng Chạp, nhưng đường đất trơn, việc ngoài đồng kém hiệu quả. Ngồi trong nhà, ra đình, đi lễ, đi thăm họ hàng là lựa chọn hợp lý.

Cuối cùng là chuyện thóc gạo. Vụ mùa gặt xong từ tháng Mười, thóc còn trong bồ, lại vừa qua Tết nên nhà nào cũng còn chút bánh trái, thịt cá để dành. Tháng Giêng là lúc đủ ăn nhất trong nửa đầu năm, trước khi cái đói giáp hạt tháng Ba kéo tới. "Ăn chơi" vì thế có cơ sở vật chất của nó.

Ba yếu tố ấy, cây trồng chưa cần người, thời tiết không thuận cho việc đồng và bồ thóc còn đầy, cùng gặp nhau trong đúng một tháng. Đây là ví dụ điển hình cho cách nhà nông xưa đọc thiên nhiên: không có lịch in sẵn, họ vẫn biết lúc nào nên làm, lúc nào nên nghỉ, và đúc kết thành câu ca để con cháu nhớ theo. Nếu một năm rét đậm làm chết mạ, tháng Giêng lập tức hết "ăn chơi", vì cả làng phải gieo lại, cấy dặm.

Tháng Giêng ở làng xưa thật ra gồm những việc gì

Đi hội làng và hội vùng. Phần lớn hội xuân Bắc Bộ mở trong tháng Giêng, từ hội một làng ở sân đình đến hội lớn kéo người nhiều tỉnh. Người đi hội vừa xem rước, vừa xem vật, đánh đu, kéo co, hát quan họ hay hát chèo tuỳ vùng.

Thăm họ hàng, mừng tuổi người già. Những ngày đầu năm dành cho thăm hỏi theo thứ tự thân sơ. Với nhiều gia đình, đây là dịp duy nhất trong năm các nhánh họ ở xa gặp nhau.

Thăm ruộng, giữ nước cho lúa chiêm. Dù "ăn chơi", người nông dân vẫn ra đồng xem lúa có bị rét hại, ruộng có đủ nước không. Gặp rét đậm, nhiều nơi phải dặm lại chỗ mạ chết.

Chăm trâu bò qua rét. Tháng Giêng trâu bò vẫn cần ủ ấm, cho ăn rơm khô, cỏ cắt về. Trâu là vốn liếng lớn của nhà, mất trâu đầu năm là lỡ cả vụ.

Sửa nông cụ cho mùa tới. Lưỡi cày, răng bừa, cán cuốc được đem đi rèn lại; nong nia, thúng mủng được vá. Thợ rèn, thợ đan trong làng thường có việc đều vào quãng này.

Cưới hỏi và làm nhà. Nhiều làng chuộng tổ chức cưới, cất nóc nhà sau Tết vì người rảnh để giúp, thóc còn để đãi, trời chưa vào mùa mưa.

Một ngày tháng Giêng ở làng xưa, kể theo ví dụ giả định

Để hình dung, lấy một gia đình ba thế hệ ở một làng đồng bằng sông Hồng đầu thế kỷ 20, ví dụ giả định. Sáng sớm, người cha dắt trâu ra bãi, nhìn qua ruộng chiêm xem nước có cạn, lúa có vàng lá vì rét. Người mẹ nấu nồi cơm, hâm lại nồi thịt đông còn từ Tết, rồi ngồi vá chiếc nong bị thủng. Ông nội ngồi ở hiên vót lạt, chuẩn bị buộc lại mái bếp.

Gần trưa, cả làng kéo ra sân đình vì hôm ấy là ngày làng mở hội. Đàn ông lớn tuổi mặc áo the vào lễ, thanh niên chuẩn bị đấu vật, các cô gái xem đánh đu, trẻ con chạy theo đám rước. Buổi chiều, người mẹ dẫn con sang làng bên thăm nhà ngoại, mang theo cặp bánh chưng còn lại. Tối về, cả nhà ngồi quanh bếp, người cha tính chuyện tháng sau trồng lạc ở mảnh bãi ven sông.

Ngày ấy không có việc gì thật nặng, nhưng cũng không ai ngồi không. Đó chính là "ăn chơi" theo nghĩa của câu ca: một tháng làm nhẹ, gặp gỡ nhiều, ăn uống khá hơn ngày thường, để lấy sức cho những tháng làm lụng đang chờ phía trước. Khi kể cho trẻ, một câu chuyện kiểu này giúp con hình dung đời sống làng tốt hơn mọi định nghĩa.

Hội xuân: vì sao dồn vào tháng Giêng và mang dấu nông nghiệp ra sao

Mật độ lễ hội tháng Giêng ở đồng bằng Bắc Bộ dày đặc đến mức người ta có câu "tháng Giêng là tháng hội". Lý do không chỉ là người rảnh: hội đầu năm còn mang ý nghĩa mở mùa, cầu cho vụ mới. Nhiều hội có nghi thức gắn với ruộng đồng, như lễ cày tịch điền mô phỏng đường cày đầu năm, hội rước nước, hội cầu mùa với các tích về thần nông, thần lúa được kể như truyền thuyết của làng.

Các cuộc thi trong hội cũng phản ánh nghề nông. Thi nấu cơm, thi thổi cơm trên thuyền, thi dệt vải, thi bắt vịt, thi cấy, đánh vật, kéo co là những sinh hoạt đòi sức khoẻ và sự khéo tay mà người làm ruộng cần. Kéo co, chẳng hạn, đã được UNESCO ghi danh năm 2015 trong hồ sơ đa quốc gia về nghi lễ và tập quán kéo co, trong đó có các làng ở Việt Nam.

Hội xuân còn là nơi trai gái các làng gặp nhau. Hát đối đáp, hát giao duyên ở nhiều vùng diễn ra trong hội tháng Giêng, và không ít đám cưới cuối năm bắt đầu từ một mùa hội. Nhìn như vậy, tháng Giêng "ăn chơi" là tháng làng tái tạo các mối quan hệ cần cho cả năm lao động sau đó: quan hệ họ hàng, xóm giềng, làng với làng.

Câu ca còn đúng đến đâu với lịch mùa vụ hôm nay

Lịch mùa vụ ở Bắc Bộ đã thay đổi nhiều nhờ giống lúa ngắn ngày, thuỷ lợi và khuyến cáo né rét. Bảng so sánh nhịp tháng Giêng xưa và nay ở mức chung, không thay cho lịch thời vụ của từng địa phương.

Khía cạnhLàng xưaHiện nay (chung)
Lúa chiêm, đông xuânCấy trong tháng Chạp, tháng Giêng đã xanh ruộngNhiều nơi gieo cấy sau Tết, tháng Giêng lại là lúc bận làm đất, gieo mạ
Thời gian rảnhRảnh việc đồng, dồn vào hộiPhụ thuộc lịch gieo cấy từng năm; người làm công nhân nghỉ Tết ngắn
Hội xuânDo làng tự tổ chức, kéo dài nhiều ngàyVẫn mở, nhiều hội thành điểm du lịch, có ban tổ chức
Ăn uốngĂn đồ Tết để dành, đủ ăn nhất nửa đầu nămKhông còn ràng buộc theo bồ thóc
Cưới hỏiDồn vào sau Tết và cuối nămRải đều quanh năm, vẫn đông vào mùa cưới truyền thống

Điều thú vị là ở nhiều nơi, lịch gieo cấy đông xuân hiện nay lùi về sau Tết để tránh rét đậm, khiến tháng Giêng thành tháng bận. Câu ca dao giữ nguyên chữ, nhưng nghĩa thực tế của nó đã đổi; người đọc hôm nay nên hiểu nó như một lát cắt của làng xưa.

Hiểu sai hay gặp về chữ "ăn chơi" trong câu ca

Hiểu sai thứ nhất là cho rằng người xưa coi tháng Giêng là để chơi bời, tiêu xài. Thực tế "ăn chơi" trong câu ca là ăn Tết và chơi hội, những hoạt động có khuôn phép của làng, không phải phung phí. Sang tháng Hai, ai không lo trồng màu sẽ bị chê, nên chính câu ca đã giới hạn cái "chơi" trong đúng một tháng.

Hiểu sai thứ hai là áp câu ca cho cả nước. Ở Nam Bộ, tháng Giêng âm lịch thường rơi vào mùa khô, nhiều nơi đang thu hoạch lúa đông xuân, việc rất bận. Ở Tây Nguyên, đó là lúc phát rẫy, chuẩn bị mùa mới. Câu ca là của đồng bằng Bắc Bộ, mô tả nhịp của vùng ấy.

Hiểu sai thứ ba là dùng câu này để biện minh cho việc kéo dài nghỉ Tết ở công sở. Đó là cách dùng đùa vui trong đời thường, không phải nghĩa gốc. Khi dạy trẻ, nên kể kèm cả đoạn sau của bài ca để con thấy "ăn chơi" chỉ là một nhịp nghỉ trong một chuỗi việc dài.

Hiểu sai thứ tư ít gặp hơn nhưng đáng nói: coi tháng Giêng ăn chơi là dấu hiệu nhà nông xưa sung túc. Thực ra cái "ăn" ấy phần lớn là đồ Tết dành dụm cả năm, và chính vì ăn tháng Giêng mà bồ thóc vơi nhanh, dẫn tới giáp hạt tháng Ba. Người già vì thế hay dặn con cháu "ăn Tết thì ăn, nhưng phải nhớ tháng Ba", một lời dặn vừa thực tế vừa phản ánh đúng nhịp thiếu đủ của làng quê.

Câu hỏi thường gặp

Bài ca dao "Tháng Giêng là tháng ăn chơi" có bao nhiêu câu?

Không có một bản chuẩn duy nhất. Bản phổ biến kể việc từ tháng Giêng đến khoảng tháng Năm, tháng Sáu, có bản dài kể đến hết năm. Các tuyển tập ca dao in những dị bản khác nhau; khi trích dẫn nên ghi là "một dị bản" thay vì khẳng định bản nào là gốc.

Ở Nam Bộ có câu ca tương tự không?

Nam Bộ có nhiều câu ca, câu nói về con nước và mùa vụ theo mùa mưa, mùa khô, ví dụ những câu về tháng nước lên, nước rút. Nhưng nhịp "tháng Giêng ăn chơi" không khớp với Nam Bộ vì tháng Giêng ở đó thường là mùa thu hoạch lúa đông xuân.

Tháng Giêng âm lịch tương ứng tháng nào dương lịch?

Tuỳ năm, tháng Giêng âm lịch bắt đầu trong khoảng từ cuối tháng Một đến giữa tháng Hai dương lịch, vì Tết Nguyên đán rơi vào khoảng thời gian đó. Vì vậy hội tháng Giêng có năm diễn ra giữa mùa nồm, có năm vẫn còn rét.

Vì sao nhiều hội xuân có nghi thức cày ruộng hoặc rước nước?

Vì hội đầu năm mang ý nghĩa mở mùa cho vụ mới. Nghi thức cày ruộng tượng trưng nhắc lại lễ tịch điền của các triều đại, còn rước nước thể hiện mong muốn có đủ nước cho đồng ruộng. Ngày nay các nghi thức này được giữ như di sản văn hoá của làng.

Có nên dùng câu ca này khi dạy trẻ về nghề nông không?

Rất nên, nhưng nên đọc cả đoạn và hỏi trẻ vì sao tháng Giêng rảnh còn tháng Năm bận. Cách này biến câu ca thành bài học về mùa vụ, khí hậu và sự chuẩn bị, thay vì chỉ là câu vè vui tai.

Tháng Giêng ở làng quê bây giờ còn hội như xưa không?

Nhiều hội vẫn mở đúng ngày cũ và giữ phần lễ, phần hội. Một số hội lớn đã thành điểm du lịch với lượng khách đông hơn hẳn trước. Hội nhỏ của từng làng thì tuỳ nơi: có làng phục dựng lại, có làng chỉ còn phần lễ trong đình.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.