PhuNong.comPhú Nông
Nếp sống làng quê theo mùa

Mùa gặt ở làng quê xưa: cắt lúa, gánh lúa, đập lúa, phơi thóc và đống rơm

Trước khi có máy gặt, một mùa gặt kéo dài nhiều tuần với liềm hái, đòn gánh, cối đập, trục lăn và sân phơi. Từng công đoạn, vì sao gấp và rơm rạ dùng vào đâu.

Farmers seen from behind carrying bundles of golden rice on bamboo shoulder poles along a narrow earthen dyke at harvest time, late afternoon light, side angle

Mùa gặt ở làng quê xưa là chuỗi công việc kéo dài nhiều tuần: cắt lúa bằng liềm hoặc hái, bó lại, gánh hay chở về, tách hạt bằng cách đập, đạp hoặc cho trâu kéo trục lăn, phơi thóc trên sân, quạt sạch rồi cất vào bồ, cuối cùng là phơi rơm và chất đống. Mỗi công đoạn đều phải chạy đua với thời tiết, vì một trận mưa giữa lúc lúa đang nằm ngoài ruộng hay thóc đang trên sân có thể làm mất cả phần lớn thành quả của một vụ.

Ngày nay máy gặt đập liên hợp làm xong trong vài giờ những việc trên. Bài này đi qua từng công đoạn của mùa gặt thủ công ở các vùng, những công cụ và tập quán gắn với nó, và lý do mùa gặt là phần ký ức sâu nhất của người lớn lên ở làng.

Khi nào thì gặt, và vì sao mùa gặt luôn gấp

Người làm ruộng xưa đọc độ chín của lúa bằng mắt và tay: khi phần lớn bông đã vàng, hạt ở cuối bông còn hơi xanh, bóp hạt thấy chắc, là lúc gặt. Gặt sớm quá hạt lép, xanh, xay ra gạo gãy; gặt muộn quá hạt rụng ngoài đồng, gặp gió to lúa đổ rạp, chuột và chim ăn bớt. Khoảng thời gian "vừa đẹp" chỉ kéo dài vài ngày cho mỗi thửa ruộng.

Vụ chiêm ở Bắc Bộ gặt vào đầu hè, lúc những trận mưa giông đầu mùa bắt đầu kéo đến. Vụ mùa gặt vào cuối thu, tránh được mưa lớn nhưng có năm gặp bão muộn. Ở miền Trung, lũ cuối năm có thể ập về khi lúa chưa kịp gặt, nên có câu nói về "gặt chạy lũ". Ở vùng trũng, nhiều khi phải lội nước đến đầu gối, đến bụng để cắt lúa ngập.

Vì thế khi lúa chín, cả làng gần như ngừng mọi việc khác. Trường làng ở một số nơi cho học trò nghỉ để về giúp gia đình, chợ thưa người, đám cưới hoãn lại. Người già kể rằng trong mùa gặt, đèn dầu ở nhiều nhà sáng đến khuya vì còn phải đập lúa, quạt thóc dưới trăng.

Ruộng nào gặt trước cũng có thứ tự riêng. Thường thì ruộng chín sớm, ruộng trũng dễ ngập, ruộng xa dễ bị trộm hay chuột phá được ưu tiên. Ruộng gần nhà, ruộng cao có thể để lùi lại vài hôm. Những tính toán ấy không ai ghi ra giấy, nhưng người làm ruộng lâu năm thuộc lòng từng thửa, biết thửa nào chín trước, thửa nào hay đổ, như người thợ thuộc từng món đồ trong xưởng của mình.

Cắt lúa bằng liềm, bằng hái và những đôi tay lấm bùn

Ở đồng bằng Bắc Bộ, công cụ gặt chính là chiếc liềm lưỡi cong có răng cưa nhỏ, cán gỗ ngắn. Người gặt một tay nắm khóm lúa, tay kia kéo liềm cắt sát hay cắt lưng chừng thân, tuỳ nhà muốn lấy rơm dài hay để rạ lại ruộng. Lúa cắt được xếp thành từng lượm, rồi bó lại bằng chính vài cọng rơm xoắn.

Ở nhiều vùng Bắc Trung Bộ, người ta quen dùng hái, một công cụ có lưỡi và cán dài hơn, có móc để gom lúa. Người dùng hái đứng thẳng hơn, quơ lúa vào rồi cắt, thích hợp với ruộng lúa cao. Ở Nam Bộ, cách gặt và công cụ cũng có những biến thể riêng, có nơi cắt lúa để cả bông dài rồi mới đập ngay tại ruộng.

Gặt là việc làm cả ngày trong tư thế cúi lưng, dưới nắng hoặc trong nước. Đỉa bám chân, gai lúa cứa tay, bụi lúa làm ngứa da là chuyện thường. Những ai từng gặt tay đều nhớ cảm giác đứng thẳng lên sau một hàng dài và thấy cả thửa ruộng còn vàng phía trước. Chính vì thế, đổi công và gặt thuê theo nhóm là hình thức phổ biến để cả làng kịp gặt.

Đưa lúa về nhà: mỗi vùng một cách

Gánh bằng đòn gánh, đòn xóc. Ở đồng bằng Bắc Bộ, phổ biến nhất là gánh lúa bằng đòn gánh tre với hai đầu quang, hoặc đòn xóc nhọn hai đầu xiên thẳng vào bó lúa. Đường bờ ruộng hẹp, trơn, người gánh phải bước đều theo nhịp đòn để lúa không rơi.

Chở bằng thuyền nan ở ruộng trũng. Ở những vùng chiêm trũng, ruộng xa ngập nước, người ta dùng thuyền nan, mủng chở lúa theo mương về làng. Ruộng trũng mùa chiêm có khi chỉ đi được bằng thuyền.

Xe bò, xe trâu. Ở miền Trung và Nam Bộ, nơi đồng rộng và đường đất khá hơn, xe bò, xe trâu bánh gỗ được dùng chở lúa. Tiếng bánh xe kẽo kẹt trên đường làng chiều mùa gặt là âm thanh nhiều người còn nhớ.

Ghe, xuồng trên kênh rạch. Ở đồng bằng sông Cửu Long, kênh rạch chằng chịt nên ghe xuồng là phương tiện chở lúa chủ yếu, cả từ ruộng về nhà lẫn từ nhà đi bán.

Gùi trên lưng ở vùng cao. Ở Tây Nguyên và miền núi phía Bắc, lúa nương được tuốt hoặc cắt bông rồi gùi về kho lúa. Nhiều cộng đồng làm kho lúa riêng gần nương hoặc ở rìa bản để phòng cháy.

Tách hạt: đập, đạp, trục và về sau là máy tuốt

Ở Bắc Bộ, cách tách hạt phổ biến là đập lúa: cầm bó lúa đập mạnh vào một tấm gỗ, phiến đá, chiếc cối đặt nghiêng hay thành chiếc bồ, hạt rơi xuống chiếu, xuống sân. Những bông còn sót hạt được rũ lại hoặc để trâu, người giẫm cho rụng hết. Ở nơi khác, người ta trải lúa trên sân rồi đạp bằng chân.

Ở nhiều vùng miền Trung và Nam Bộ, lúa được trải thành vòng trên sân, rồi cho trâu, bò kéo một chiếc trục lăn bằng đá hoặc gỗ đi vòng quanh, gọi là trục lúa. Người cầm thừng đi ở giữa, trâu đi vòng ngoài, hạt dần rụng khỏi bông. Ở một số nơi Nam Bộ, người ta còn để trâu đi giẫm thẳng lên lúa, gọi là đạp lúa. Công việc thường làm buổi tối khi trời mát, kèm câu hò cho người và trâu đỡ mệt.

Từ khoảng giữa thế kỷ 20, máy tuốt lúa đạp chân xuất hiện dần ở nhiều làng: một trống quay có răng thép, người đạp bàn đạp cho trống quay, cầm bó lúa áp vào để răng tuốt hạt. Sau đó là máy tuốt chạy động cơ, rồi máy gặt đập liên hợp. Mỗi bước đều rút ngắn mùa gặt, và mỗi bước cũng làm mất đi một phần âm thanh, hình ảnh quen thuộc của sân làng.

Sân phơi, quạt thóc và cất vào bồ

Thóc vừa tách hạt còn ẩm, lẫn rơm vụn, hạt lép. Muốn cất giữ được lâu phải phơi khô và làm sạch. Bảng dưới tóm các công đoạn sau tách hạt và vì sao từng bước quan trọng.

Công đoạnCách làm xưaVì sao cần
Phơi thócTrải mỏng trên sân gạch, sân đất nện hoặc nong nia, đảo bằng cào gỗ vài lần một ngàyThóc ẩm cất vào bồ sẽ mốc, nảy mầm, nóng bồ
Chạy mưaThấy mây đen là cả nhà vun thóc, che bằng tấm cót, tấm nilông về sauThóc gặp mưa mất phẩm chất, phải phơi lại từ đầu
Quạt thócRê thóc từ trên cao qua gió trời, dùng quạt nan, về sau dùng quạt hòm quay tayThổi bay hạt lép, bụi, rơm vụn, chỉ giữ hạt chắc
Cất trữĐổ vào bồ đan bằng tre, cót quây tròn, chum vại; có nơi lót tro bếp, lá xoan dưới đáyGiữ thóc ăn đến vụ sau, chống chuột, mọt
Xay, giã khi cần ănXay thóc bằng cối xay tre đất, giã gạo bằng cối giã, cối đạpThóc giữ lâu hơn gạo nên chỉ xay giã đủ ăn từng đợt

Cả quá trình từ cắt lúa đến khi thóc vào bồ thường mất vài tuần cho một gia đình. Nhìn bồ thóc đầy, người xưa mới yên lòng mà nghĩ tới chuyện cơm mới, cưới hỏi, hội làng.

Hình ảnh nhà nào cũng có chiếc bồ thóc ở góc nhà, có khi to hơn cả giường, là một phần không gian sống của làng quê xưa mà người ở phố ngày nay khó hình dung.

Rơm rạ: không có gì của mùa gặt bị bỏ phí

Rơm là phần thân lúa phía trên được cắt về cùng bông; rạ là phần gốc còn lại ngoài ruộng. Với làng quê xưa, cả hai đều là tài sản. Rơm phơi khô được chất thành đống tròn cao trong góc vườn, quanh một cây cọc giữa, đỉnh vuốt nhọn để nước mưa trôi. Đống rơm là kho thức ăn cho trâu bò suốt mùa đông và là chất đốt của gian bếp.

Rạ được nhổ hoặc cắt về để lợp nhà, đun bếp, độn chuồng; rạ mục làm phân. Nhiều làng có nghề bện rơm làm chổi, làm đệm, làm dây; rơm còn dùng ủ nấm rơm, chèn giữ đồ gốm khi vận chuyển. Mái nhà lợp rạ phải thay vài năm một lần, và việc thay mái thường được làm ngay sau mùa gặt, khi có rạ mới và người rảnh tay.

Ngày nay ở nhiều đồng bằng, rơm rạ thừa nhiều hơn nhu cầu vì bếp gas, mái ngói, trâu bò ít đi. Việc đốt rơm rạ ngoài đồng sau gặt gây khói bụi, và nhiều địa phương khuyến khích dùng rơm làm nấm, làm phân hữu cơ, làm thức ăn gia súc thay vì đốt. Đó là một ví dụ cho thấy khi nếp sống thay đổi, thứ từng quý giá có thể thành gánh nặng, và người ta lại phải tìm cách dùng lại theo lối mới.

Sau gặt: mót lúa, thả vịt đồng và những ngày ngơi tay

Ngay sau khi gặt, ruộng vẫn còn những bông lúa rơi rớt. Trẻ con và người nghèo đi mót lúa, nhặt từng bông, gom lại thành một ít thóc mang về. Ở nhiều làng, chủ ruộng không cấm người mót lúa, coi đó là phần dành cho người thiếu. Đàn vịt chạy đồng được thả xuống ăn thóc rơi, ốc, tép, rồi được dồn sang cánh đồng vừa gặt khác.

Bữa cơm gạo mới, đĩa cốm, mâm cỗ cúng cơm mới đánh dấu sự kết thúc của mùa. Đây cũng là lúc trả công cho phường gặt, trả nợ thóc vay lúc giáp hạt, góp thóc vào việc làng. Một bồ thóc đầy sau vụ chưa hẳn là của riêng gia đình; một phần đã có tên người khác chờ sẵn.

Rồi đến những ngày ngơi tay ngắn ngủi. Đàn ông sửa lại nông cụ, phụ nữ vá áo, ủ tương, trẻ con thả diều trên cánh đồng trơ gốc rạ. Ký ức về những buổi chiều như thế, gió thổi qua cánh đồng vừa gặt, mùi rơm khô và khói đốt đồng, là thứ mà rất nhiều người quê ở phố mang theo suốt đời.

Câu hỏi thường gặp

Liềm và hái khác nhau như thế nào?

Liềm có lưỡi cong ngắn, thường có răng cưa nhỏ, cán ngắn, người gặt cúi người nắm khóm lúa để cắt. Hái có cán dài hơn, lưỡi gắn chéo và có phần móc để gom lúa, người dùng đứng thẳng hơn. Hái hay gặp ở một số vùng Bắc Trung Bộ, liềm phổ biến ở đồng bằng Bắc Bộ.

Trục lúa là gì?

Trục lúa là cách tách hạt bằng cách trải lúa thành vòng trên sân rồi cho trâu hoặc bò kéo một chiếc trục lăn bằng đá hay gỗ đi vòng quanh, cho hạt rụng khỏi bông. Cách này phổ biến ở nhiều vùng miền Trung và Nam Bộ trước khi có máy tuốt lúa.

Vì sao đống rơm thường có hình tròn và đỉnh nhọn?

Hình tròn quanh một cọc giữa giúp đống rơm vững, không đổ khi gió to. Đỉnh vuốt nhọn và lớp rơm ngoài được xếp chéo xuống để nước mưa chảy trôi ra ngoài, phần bên trong giữ khô để làm thức ăn cho trâu bò và chất đốt qua mùa đông.

Mót lúa có bị coi là ăn cắp không?

Ở phần lớn làng quê xưa thì không, nếu người mót chỉ nhặt bông lúa rơi trên ruộng đã gặt xong. Nhiều chủ ruộng coi đó là phần để lại cho người nghèo và trẻ con. Tuy vậy, mót lúa ở ruộng chưa gặt hay lấy từ bó lúa của người khác thì bị xem là trái lệ làng.

Máy tuốt lúa đạp chân xuất hiện ở Việt Nam từ khi nào?

Không có một mốc chung cho cả nước. Máy tuốt lúa đạp chân phổ biến dần ở nhiều làng từ khoảng giữa thế kỷ 20 và được dùng song song với cách đập lúa thủ công trong nhiều năm. Mỗi vùng tiếp cận loại máy này ở những thời điểm khác nhau.

Có thể trải nghiệm mùa gặt thủ công ở đâu ngày nay?

Một số làng du lịch nông nghiệp và vùng ruộng bậc thang miền núi vẫn gặt tay vì địa hình hoặc giữ nghề, và có hoạt động cho khách tham gia. Nên hỏi trước người dân địa phương về thời điểm gặt, xin phép trước khi xuống ruộng và không làm ảnh hưởng đến công việc thật của họ.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.