PhuNong.comPhú Nông
Lịch sử khai hoang, mở đất

Kênh Thoại Hà và kênh Vĩnh Tế: hai con kênh đầu thế kỷ 19 mở đường cho miền Tây

Kênh Thoại Hà (1818) và kênh Vĩnh Tế (1819–1824) được đào thế nào, ai chỉ huy, dùng để làm gì, đã đổi đời sống vùng Châu Đốc, Long Xuyên, Rạch Giá, Hà Tiên ra sao.

Long straight canal at sunset from a low wooden bridge, two rowers seen from behind, flat rice fields and a lone hill beyond

Kênh Thoại Hà được đào năm 1818, nối vùng Long Xuyên với Rạch Giá; kênh Vĩnh Tế được đào từ năm 1819 đến 1824, nối Châu Đốc với Hà Tiên. Cả hai do Nguyễn Văn Thoại (Thoại Ngọc Hầu) chỉ huy, dưới triều Gia Long và Minh Mạng. Hai con kênh mở đường nước ngọt, đường giao thông và đường khai phá cho vùng đất trũng phía tây sông Hậu, nơi trước đó còn là đồng hoang, đầm lầy và rừng tràm.

Ngày nay toàn bộ hai tuyến kênh nằm trong tỉnh An Giang (gồm cả Kiên Giang cũ sau khi sắp xếp năm 2025). Bài kể lại việc đào kênh, mục đích, đời sống dân phu, và những gì hai con kênh để lại cho vùng đất hai bên bờ.

Thoại Ngọc Hầu và vùng đất phía tây sông Hậu

Nguyễn Văn Thoại (1761–1829), người gốc Quảng Nam, theo chúa Nguyễn Ánh từ trẻ, sau làm quan trấn thủ nhiều nơi ở Nam Bộ, trong đó có trấn Vĩnh Thanh và đồn Châu Đốc. Tước hầu của ông là Thoại Ngọc Hầu, và người dân miền Tây quen gọi ông bằng tước hiệu ấy.

Đầu thế kỷ 19, vùng đất phía tây sông Hậu, giữa Châu Đốc, Long Xuyên, Rạch Giá và Hà Tiên, phần lớn còn hoang. Mùa mưa nước ngập mênh mông, mùa khô đất nứt, nước phèn đỏ quạch. Đi từ Châu Đốc sang Hà Tiên hay từ Long Xuyên ra biển Rạch Giá phải vòng rất xa theo đường sông, hoặc lội qua đồng sậy. Dân cư chỉ tụ lại ven sông Hậu, trên vài giồng đất và chân núi.

Với triều Nguyễn mới thống nhất, vùng này vừa là đất có thể khai phá, vừa là vùng biên giới cần đường đi lại nhanh. Một con kênh xuyên ngang đồng trũng có thể giải được cả ba bài toán: nước, giao thông và quản lý. Đó là bối cảnh để hai công trình lớn nhất thời ấy ở Nam Bộ được giao cho Thoại Ngọc Hầu.

Người được giao việc cũng phải là người hiểu vùng đất. Thoại Ngọc Hầu đã nhiều năm đóng quân, làm quan ở miền Tây, biết đường nước, mùa lũ, biết các cộng đồng Việt, Khmer, Hoa, Chăm sống ở đây. Trước khi đào, người ta phải dò tuyến, chọn chỗ đất cao thấp, tính hướng nước chảy để kênh không bị bồi lấp nhanh. Những công việc chuẩn bị ấy ít được sử chép, nhưng là phần quyết định công trình có dùng được lâu hay không.

Dòng thời gian hai con kênh

Các mốc dưới đây là những mốc được sử cũ và tài liệu địa phương ghi khá thống nhất:

  • Năm 1818: đào kênh nối rạch Long Xuyên với Rạch Giá, ban đầu gọi là kênh Đông Xuyên. Công trình xong nhanh trong mùa khô; vua Gia Long ban tên Thoại Hà để ghi công người chỉ huy, ngọn núi gần đó (núi Sập) được gọi là Thoại Sơn.
  • Năm 1819: bắt đầu đào kênh từ Châu Đốc sang Hà Tiên, chạy gần song song với đường biên giới phía tây.
  • Năm 1820–1824: công việc chia làm nhiều đợt, có đợt tạm ngừng; nhiều vạn dân phu người Việt và người Khmer được huy động. Kênh hoàn thành năm 1824.
  • Sau khi xong: vua Minh Mạng đặt tên kênh là Vĩnh Tế, theo tên bà Châu Thị Vĩnh Tế, vợ Thoại Ngọc Hầu, người được ghi là đã giúp chồng lo việc cho dân phu. Ngọn núi Sam bên bờ kênh cũng được gọi là Vĩnh Tế Sơn.
  • Về sau: hình kênh Vĩnh Tế được khắc lên một chiếc trong bộ Cửu đỉnh ở Huế, cùng nhiều sông núi tiêu biểu khác của đất nước.

Chiều dài kênh Vĩnh Tế thường được ghi khoảng 87 km, kênh Thoại Hà khoảng 30 km, tuỳ cách tính điểm đầu và điểm cuối. Khi trích dẫn, nên ghi "khoảng" và dẫn nguồn cụ thể.

Đào kênh bằng tay: công việc của hàng vạn người

Không có máy móc, toàn bộ hai con kênh được đào bằng sức người với cuốc, mai, thuổng, ky tre và quang gánh. Dân phu chia thành từng đội theo đoạn, đào đất lòng kênh rồi đắp lên hai bờ. Đất phèn trũng khi đào lên vừa dẻo vừa chua, ngâm chân lâu dễ lở loét; mùa khô nắng gắt, mùa mưa ngập nước, lòng kênh vừa đào lại bị sạt.

Sử cũ ghi nhiều người đã bỏ mạng trong những năm đào kênh Vĩnh Tế vì bệnh tật, thiếu nước sạch và lao lực. Ở vùng núi Sam, người dân còn truyền tụng việc Thoại Ngọc Hầu cho thu nhặt hài cốt dân phu, cải táng chung một nơi và làm lễ tế, gắn với bài văn tế nghĩa trủng được nhắc nhiều. Câu chuyện ấy là một phần ký ức chung của vùng Châu Đốc.

Nhịp công trường đi theo mùa. Việc đào chủ yếu làm trong mùa khô, khi nước rút, lòng kênh lộ ra; vào mùa mưa lũ, nước ngập công trường, phần lớn dân phu được cho về, có khi công việc ngừng hẳn cả năm. Vì vậy một con kênh dài như Vĩnh Tế phải kéo dài năm, sáu năm mới xong, dù số người huy động mỗi đợt rất đông. Dân phu được cấp gạo, tiền theo đợt, ăn ở trong lán dựng tạm dọc tuyến kênh.

Nhắc đến công lao người chỉ huy, cũng nên nhắc công của những người đào đất. Không có hàng vạn người đổ mồ hôi trên công trường suốt mấy năm, sẽ không có con kênh nào. Đọc lịch sử khai phá theo cách ấy giúp thấy rõ hơn cái giá thật của những vùng ruộng lúa hôm nay.

Hai con kênh dùng để làm gì

Đường giao thông thuỷ. Trước khi có kênh, ghe từ Châu Đốc đi Hà Tiên phải vòng xa; có kênh rồi, đường đi rút ngắn hẳn. Kênh Thoại Hà mở lối từ sông Hậu ra vịnh Thái Lan qua Rạch Giá, giúp chở lúa, muối, hàng hoá giữa hai vùng.

Dẫn nước ngọt và thau chua. Nước sông Hậu theo kênh chảy sâu vào vùng trũng, mùa lũ mang phù sa vào đồng, mùa khô giữ nước ngọt cho ruộng ven kênh. Dần dần, dải đất hai bên bờ bớt chua, cấy được lúa.

Mở đất và định cư. Đất đào lên đắp thành bờ cao, là chỗ đầu tiên để dựng nhà trên vùng trũng. Người dân kéo đến ở dọc bờ kênh, làm ruộng ra phía sau, lâu dần thành những làng nối dài theo dòng nước.

Quản lý vùng biên. Kênh Vĩnh Tế chạy gần đường biên giới phía tây, giúp nhà nước đi lại, tiếp tế và quản lý vùng đất này thuận lợi hơn. Mục đích này được ghi rõ trong sử nhà Nguyễn bên cạnh mục đích kinh tế.

Vùng đất hai bên bờ thay đổi ra sao

Sau khi có kênh Thoại Hà, những làng đầu tiên mọc lên dọc bờ, trong đó vùng quanh núi Sập trở thành nơi tụ cư sớm. Thoại Ngọc Hầu cho dựng bia ở chân núi để ghi lại việc đào kênh và lập làng; tấm bia này được nhắc tới như một văn bản quý về lịch sử khai phá vùng tứ giác. Vùng Thoại Sơn về sau trở thành vùng lúa lớn của An Giang.

Kênh Vĩnh Tế thì chảy qua vùng đất khó hơn: gần núi, nhiều phèn, ngập sâu mùa lũ. Ven kênh hình thành các xóm người Việt, các phum sóc người Khmer và nhiều làng Chăm ven sông Hậu gần đó. Vùng Bảy Núi kề bên kênh đến nay vẫn là nơi nhiều cộng đồng sống cạnh nhau, mỗi cộng đồng giữ nếp làm ruộng, làm thốt nốt, dệt vải riêng.

Tuy vậy, hai con kênh không biến cả vùng thành ruộng ngay. Phần lớn đồng trũng giữa các tuyến kênh vẫn hoang tới tận thế kỷ 20, chỉ có dải đất ven bờ được khai thác. Phải đợi thêm một mạng lưới kênh dày hơn và kỹ thuật thau chua tốt hơn, vùng tứ giác Long Xuyên mới thành vựa lúa như hôm nay. Thoại Hà và Vĩnh Tế là những đường kẻ đầu tiên trên bức tranh ấy.

Một thay đổi ít được để ý là cách người ta nhìn vùng đất. Trước khi có kênh, đồng trũng phía tây sông Hậu được coi là nơi khó ở, chỉ ghé qua. Sau khi có kênh, nó thành nơi có thể đến ở và làm ăn lâu dài, có đường về chợ, về huyện lỵ. Sự thay đổi trong cách nhìn ấy là điều kiện để những đợt người kế tiếp dám đến khai phá sâu hơn.

So sánh nhanh hai con kênh

Hai công trình cùng người chỉ huy, cùng thời kỳ, nhưng quy mô và vai trò khác nhau:

Khía cạnhKênh Thoại HàKênh Vĩnh Tế
Thời gian đàoNăm 1818Năm 1819–1824, nhiều đợt
Nối giữaVùng Long Xuyên và Rạch GiáChâu Đốc và Hà Tiên
Chiều dài thường được ghiKhoảng 30 kmKhoảng 87 km
Tên gọi đặt theoTước hiệu Thoại Ngọc HầuTên bà Châu Thị Vĩnh Tế
Vai trò nổi bậtGiao thông, dẫn nước, mở làng ven núi SậpGiao thông, quản lý vùng biên, thau chua
Dấu tích tiêu biểuBia ở núi Sập (Thoại Sơn)Lăng Thoại Ngọc Hầu ở chân núi Sam

Cả hai kênh đến nay vẫn được dùng, đã được nạo vét, mở rộng nhiều lần. Đi dọc bờ hôm nay khó hình dung đây từng là công trường của hàng vạn người, nhưng tên kênh, tên núi và những tấm bia vẫn giữ câu chuyện ấy.

Đến Châu Đốc, Thoại Sơn để đọc lại lịch sử

Ai muốn tìm hiểu lịch sử hai con kênh có thể bắt đầu từ lăng Thoại Ngọc Hầu ở chân núi Sam, Châu Đốc, nơi an táng ông và hai bà vợ, bên cạnh là khu mộ chung của dân phu. Từ đó nhìn ra là cánh đồng và dòng kênh Vĩnh Tế chạy về phía tây, một khung cảnh giúp hình dung rõ quy mô công trình.

Ở Thoại Sơn, ngọn núi nhỏ bên kênh Thoại Hà và tấm bia ghi việc đào kênh là điểm tham quan gắn trực tiếp với lịch sử khai phá. Đi ghe dọc kênh vào mùa nước nổi, khi đồng ruộng hai bên ngập trắng, là cách tốt để hiểu vì sao người xưa phải đào kênh thì mới sống được ở vùng đất này.

Khi đưa học sinh đi tham quan, nên chuẩn bị trước vài câu hỏi đơn giản: con kênh nối từ đâu tới đâu, vì sao lại đào ở đây, người đào kênh sống thế nào, sau khi có kênh thì làng mọc lên ở đâu. Những câu hỏi ấy biến chuyến đi thành bài học địa lý – lịch sử trọn vẹn hơn mọi bài giảng trên lớp. Mang theo một tấm ảnh vệ tinh in sẵn của vùng để các em tự dò theo đường kênh cũng là cách làm nhiều thầy cô đã thử.

Câu hỏi thường gặp

Kênh Vĩnh Tế dài bao nhiêu và nối từ đâu đến đâu?

Kênh Vĩnh Tế nối Châu Đốc với Hà Tiên, chiều dài thường được ghi khoảng 87 km, chạy gần song song với đường biên giới phía tây. Kênh được đào từ năm 1819 đến 1824 dưới sự chỉ huy của Thoại Ngọc Hầu.

Vì sao kênh mang tên Vĩnh Tế?

Vua Minh Mạng đặt tên kênh theo tên bà Châu Thị Vĩnh Tế, vợ Thoại Ngọc Hầu, để ghi nhận công của bà trong việc lo cho dân phu suốt những năm đào kênh. Núi Sam bên bờ kênh cũng được gọi là Vĩnh Tế Sơn.

Kênh Thoại Hà được đào năm nào?

Kênh Thoại Hà được đào năm 1818, nối rạch Long Xuyên với Rạch Giá, ban đầu gọi là kênh Đông Xuyên. Vua Gia Long ban tên Thoại Hà để ghi công Thoại Ngọc Hầu, ngọn núi gần kênh được gọi là Thoại Sơn.

Ai đã đào kênh Vĩnh Tế?

Người chỉ huy là Thoại Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại, nhưng người trực tiếp đào là nhiều vạn dân phu người Việt và người Khmer, làm thủ công qua nhiều đợt. Nhiều người đã mất trong những năm làm kênh vì bệnh tật và lao lực.

Hai con kênh này nay thuộc tỉnh nào?

Sau khi sắp xếp tỉnh thành năm 2025, Kiên Giang được nhập vào An Giang, nên cả kênh Thoại Hà và kênh Vĩnh Tế nay đều nằm trọn trong tỉnh An Giang, đi qua các vùng Châu Đốc, Thoại Sơn, Rạch Giá và Hà Tiên.

Có thể xem di tích liên quan đến hai con kênh ở đâu?

Lăng Thoại Ngọc Hầu ở chân núi Sam, Châu Đốc, cùng khu mộ dân phu là di tích tiêu biểu nhất. Ở Thoại Sơn có ngọn núi và tấm bia ghi việc đào kênh Thoại Hà. Đi ghe dọc kênh mùa nước nổi cũng giúp hình dung cảnh xưa.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.