Nông nhàn là những quãng giữa hai vụ lúa khi ruộng ít cần người, ở đồng bằng Bắc Bộ xưa rơi chủ yếu vào khoảng tháng Một, tháng Chạp âm lịch và một phần mùa hè sau khi cấy mùa xong. Người làng không ngồi không trong quãng ấy: họ dệt vải, đan rổ rá, làm nón, làm hương, làm bánh, rèn, mộc, đi buôn hay đi làm thuê ở nơi khác để kiếm thêm cái ăn, cái mặc.
Nhiều làng nghề nổi tiếng ở đồng bằng Bắc Bộ khởi đầu từ chính những nghề phụ lúc nông nhàn, rồi dần lấn át cả việc ruộng. Bài này kể nông nhàn ở làng xưa diễn ra thế nào, những nghề phụ phổ biến, ai làm, và vì sao quãng thời gian tưởng như rảnh rỗi lại góp phần làm nên diện mạo làng Việt.
Nông nhàn rơi vào lúc nào và vì sao làng xưa thừa người lúc ấy
Cây lúa cần nhiều người vào những đỉnh ngắn: lúc cấy và lúc gặt. Giữa các đỉnh là những tuần ruộng chỉ cần thăm nước, làm cỏ, việc mà một hai người trong nhà làm được. Ở Bắc Bộ, quãng dài nhất là sau gặt mùa tháng Mười đến trước Tết, trừ những ngày gieo mạ, cấy chiêm; quãng thứ hai là giữa mùa hè sau khi cấy mùa xong, nhất là những ngày mưa dầm tháng Bảy.
Nông nhàn còn có lý do khác: đất ít. Đồng bằng sông Hồng từ rất lâu đã là một trong những vùng nông thôn đông dân nhất, mỗi hộ chỉ có vài sào ruộng. Chia diện tích ấy cho số người trong nhà thì lao động dư ra rất nhiều, nhất là khi lúa chỉ cần người theo đợt. Người dư sức, thiếu đất buộc phải tìm việc khác để sống.
Vì vậy, nông nhàn không đồng nghĩa với nhàn rỗi. Với nhiều gia đình nghèo, đó lại là lúc lo nhất, vì không có việc ruộng nghĩa là không có công làm thuê, mà thóc trong bồ thì vơi dần. Nghề phụ là cách biến sức lao động thừa thành thứ đổi được ra gạo.
Những nghề phụ phổ biến ở làng quê xưa
Dệt vải, ươm tơ. Nhiều làng trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ, dệt lụa, dệt vải bông hoặc vải đũi. Khung cửi đặt trong nhà, phụ nữ dệt vào những tháng ruộng rảnh và cả những buổi tối. Vải dệt ra dùng trong nhà, phần dư mang ra chợ.
Đan lát mây tre, cói. Rổ, rá, thúng, mủng, nong, nia, giỏ, chiếu cói là những thứ mọi nhà nông cần. Làng có tre, có cói thì đan bán cho cả vùng. Nghề đan không cần vốn lớn, trẻ con và người già cũng làm được.
Làm nón. Lá nón được phơi, là phẳng, khâu lên vành tre theo từng lớp. Nghề nón đòi hỏi đôi tay khéo và nhiều giờ ngồi, hợp với những ngày mưa không ra đồng được.
Làm hương. Nhiều làng làm hương: chẻ tre làm chân hương, nhuộm, se bột hương, phơi. Mùa làm hương bận nhất là cuối năm, khi nhu cầu lễ Tết tăng, trùng đúng quãng nông nhàn.
Làm bánh, làm bún, làm đậu. Từ gạo, đậu, ngô của chính làng, người ta làm bánh đa, bánh đúc, bún, đậu phụ, mạch nha, mang đi bán sớm mỗi ngày. Đây là nghề phụ giúp có tiền mặt đều đặn.
Rèn, mộc, gốm. Thợ rèn sửa nông cụ cho cả vùng, thợ mộc dựng nhà, đóng đồ, thợ gốm làm chum vại, nồi niêu. Những nghề này cần tay nghề cao hơn và thường được truyền trong họ.
Từ nghề phụ thành làng nghề: cách một nghề bén rễ
Một nghề phụ trở thành nghề của cả làng qua nhiều thế hệ. Thường có một người hoặc một nhóm mang nghề về, được làng ghi nhận là tổ nghề; nghề lan ra trong họ, rồi sang hàng xóm. Khi đủ đông người làm, làng có tiếng với một loại hàng, người buôn tìm về, đầu ra ổn định hơn, và nghề càng bám rễ.
Ở đồng bằng Bắc Bộ có nhiều ví dụ quen thuộc: lụa Vạn Phúc, gốm Bát Tràng, nón làng Chuông, mây tre đan ở vùng Chương Mỹ, hương ở vùng Quảng Phú Cầu, đều thuộc Hà Nội ngày nay. Ở mỗi nơi, nghề đi cùng nông nghiệp một thời gian dài trước khi thành nguồn sống chính. Lịch sử cụ thể của từng làng có nhiều tương truyền khác nhau, nên khi kể cần ghi rõ đâu là sử liệu, đâu là truyền thuyết của làng.
Làng nghề thường tổ chức thành phường hội, có lệ riêng về học nghề, về giữ bí quyết, về ngày giỗ tổ nghề. Ngày giỗ tổ là dịp người trong nghề gặp nhau, được nhiều làng giữ đến nay như một sinh hoạt văn hoá. Bí quyết nghề có khi chỉ truyền cho con trai hoặc con dâu, không truyền cho con gái vì sợ nghề theo con gái về làng khác, một tập quán phản ánh rõ cách làng xưa coi nghề là tài sản chung.
Phụ nữ và quãng nông nhàn không bao giờ nhàn
Trong phân công truyền thống, phụ nữ nông thôn làm cả việc đồng, việc nhà và phần lớn nghề phụ. Lúc nông nhàn, đàn ông có thể có vài ngày nghỉ, đi hội, uống nước chè, còn phụ nữ chuyển từ ruộng sang khung cửi, sang rổ đan, sang gánh hàng ra chợ. Nhiều câu ca dao nhắc tới hình ảnh người vợ thức khuya dệt cửi, sáng sớm gánh hàng đi chợ phiên.
Buôn bán nhỏ ở chợ làng, chợ phiên phần lớn do phụ nữ đảm nhận: bán vải dệt, bán rau, bán bánh, bán gà vịt. Những đồng tiền ấy là nguồn tiền mặt chủ yếu của nhiều gia đình, dùng mua muối, dầu thắp, trả nợ, đóng góp việc làng. Vai trò kinh tế của phụ nữ nông thôn, vì thế, lớn hơn nhiều so với hình ảnh "chỉ lo bếp núc" mà nhiều người nghĩ.
Khi ghi lại ký ức làng, hỏi các bà, các mẹ về những năm làm nghề phụ thường mở ra những chi tiết rất cụ thể: một tấm vải dệt mất bao nhiêu đêm, một chiếc nón bán được bao nhiêu bát gạo, đi chợ xa mấy cây số. Những con số ấy là dữ liệu quý về kinh tế nông hộ xưa mà sách vở hiếm khi có.
Lịch nông nhàn và nghề phụ ở một làng Bắc Bộ, ví dụ giả định
Để thấy nghề phụ đan vào lịch ruộng ra sao, bảng dưới dựng một làng giả định ở đồng bằng sông Hồng có nghề đan và làm bánh đa. Tháng ghi theo âm lịch; con số chỉ để minh hoạ.
| Quãng tháng | Việc ruộng | Nghề phụ | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| Tháng Một – tháng Chạp | Gieo mạ, cấy chiêm vài đợt | Đan và làm bánh đa nhiều nhất năm | Hàng Tết bán chạy, cả nhà cùng làm |
| Tháng Giêng – tháng Hai | Thăm ruộng, làm cỏ | Đan đều, bánh đa giảm | Đi hội, cưới hỏi |
| Tháng Ba – tháng Tư | Chăm lúa chiêm, gieo mạ mùa | Đan đồ cho mùa gặt (thúng, nia, bồ) | Giáp hạt, nghề phụ là nguồn gạo chính |
| Tháng Năm – tháng Sáu | Gặt chiêm, cấy mùa | Gần như ngừng | Cả làng ra đồng |
| Tháng Bảy – tháng Tám | Làm cỏ lúa mùa | Đan, làm bánh trở lại | Mưa dầm, làm trong nhà |
| Tháng Chín – tháng Mười | Gặt mùa | Ngừng | Thu thóc, trả nợ |
Bảng cho thấy nghề phụ không phải việc làm quanh năm đều đặn, mà co giãn theo ruộng. Khi ruộng cần, nghề lùi lại; khi ruộng rảnh, nghề tiến lên. Chính sự co giãn này giúp gia đình nông dân xưa vừa giữ được đất, vừa có thêm thu nhập trong những tháng thiếu.
Đi làm xa lúc nông nhàn: những chuyến đi theo mùa
Không phải làng nào cũng có nghề phụ. Nhiều người dùng quãng nông nhàn để đi làm thuê ở nơi khác: đi cấy, đi gặt cho vùng có thời vụ lệch, đi gánh thuê, kéo xe, làm thợ phụ ở thị trấn, thành phố. Có những làng mà đàn ông đi làm thợ xây, thợ mộc ở các đô thị trong mùa nông nhàn rồi về khi vào vụ, tạo thành một nhịp di chuyển theo mùa kéo dài qua nhiều thế hệ.
Những chuyến đi buôn chuyến cũng phổ biến: mua hàng ở vùng này mang sang vùng khác bán, như mua nồi đất, chiếu cói, nước mắm, muối ở vùng biển mang lên vùng trung du, đổi lấy chè, gỗ, lâm sản. Người đi buôn thường đi theo nhóm, gánh bộ hoặc đi thuyền, mất nhiều ngày mới về.
Nhịp đi về theo mùa ấy là tiền thân của hiện tượng lao động nông thôn ra thành phố làm việc ngày nay. Điểm khác là xưa kia người ta đi rồi về theo vụ lúa, còn nay nhiều người đi hẳn, chỉ về dịp Tết. Khi kể chuyện làng, nhận ra sự nối tiếp này giúp người trẻ hiểu rằng việc rời làng kiếm sống không phải chuyện mới.
Nông nhàn cho hội hè, học chữ và việc chung của làng
Ngoài kiếm sống, nông nhàn còn là thời gian dành cho những việc làng không làm được trong mùa bận. Làng tổ chức đắp đường, nạo vét mương máng, tu sửa đình, xây cầu đá. Theo hương ước nhiều nơi, mỗi suất đinh phải góp một số ngày công cho việc chung, và những ngày công ấy thường được huy động vào quãng nông nhàn.
Đây cũng là thời của văn nghệ. Phường chèo làng tập vở, hát ả đào ở một số nơi, các nhóm hát quan họ ở vùng Kinh Bắc luyện giọng chuẩn bị cho hội xuân. Thanh niên tập vật, tập võ, chuẩn bị cho các cuộc thi trong hội làng. Nhiều làn điệu dân ca, nhiều vở chèo được truyền từ đời này sang đời khác chính trong những tối nông nhàn như thế.
Trẻ con nhà khá giả đi học chữ ở trường làng hay nhà thầy đồ chủ yếu vào lúc ruộng rảnh, nghỉ học khi vào vụ để phụ giúp gia đình. Nhịp học theo mùa vụ ấy còn để lại dấu vết trong ký ức của nhiều người lớn tuổi, nhớ những lần phải nghỉ học đi gặt hay đi chăn trâu.
Nông nhàn ngày nay: khi nghề phụ thành nghề chính
Thuỷ lợi, giống lúa ngắn ngày và máy móc đã làm thay đổi hẳn nhịp nông nhàn. Ruộng cần ít ngày công hơn, nhưng số vụ tăng lên, quãng rảnh bị chia nhỏ. Đồng thời, nhiều làng nghề đã lớn đến mức nghề trở thành nguồn sống chính, ruộng chỉ còn là phần phụ, thậm chí cho thuê lại.
Ở nhiều vùng, lao động trẻ làm việc ở khu công nghiệp gần nhà, thời gian làm ruộng chỉ còn là những ngày nghỉ. Khái niệm nông nhàn với họ gần như không còn ý nghĩa. Nhưng với người lớn tuổi ở nhà giữ ruộng, nhịp cũ vẫn còn: những tháng ít việc ruộng vẫn là lúc đan rổ, làm tương, muối dưa, trông cháu.
Với người muốn giữ di sản nghề nông, nghề phụ lúc nông nhàn là một mảnh ghép quan trọng. Một chiếc rổ đan tay, một tấm vải dệt khung cửi hay một bó hương làm thủ công không chỉ là đồ vật, mà là dấu vết của cách người làng xưa tổ chức thời gian và sức lao động theo nhịp lúa. Ghi lại tên nghề, tên người thợ, cách làm và quãng tháng làm của từng nghề trong làng là việc nhỏ nhưng có giá trị lâu dài.
Câu hỏi thường gặp
Nông nhàn là gì?
Nông nhàn là khoảng thời gian giữa các vụ mùa khi việc đồng ruộng ít, không cần nhiều người. Ở đồng bằng Bắc Bộ xưa, nông nhàn rơi chủ yếu vào cuối năm âm lịch sau gặt mùa và một phần mùa hè sau khi cấy mùa xong. Người nông dân dùng quãng này làm nghề phụ, đi làm thuê hoặc lo việc làng.
Vì sao đồng bằng Bắc Bộ có nhiều làng nghề hơn các vùng khác?
Một lý do lớn là mật độ dân cư cao và ruộng đất bình quân thấp, khiến lao động dư thừa nhiều trong lúc nông nhàn. Thêm vào đó là truyền thống làng xã chặt chẽ, gần các đô thị và trục buôn bán lớn. Nhiều yếu tố cùng tác động, không có một nguyên nhân duy nhất.
Tổ nghề là ai?
Tổ nghề là người được làng nghề ghi nhận đã mang nghề về hoặc truyền nghề đầu tiên. Nhiều làng thờ tổ nghề và tổ chức ngày giỗ tổ hằng năm. Thông tin về tổ nghề thường đến từ truyền thuyết của làng, thần tích hay gia phả, nên mức độ xác thực lịch sử khác nhau giữa các nơi.
Nghề phụ lúc nông nhàn có phải là nghề thủ công mỹ nghệ không?
Không hẳn. Phần lớn nghề phụ xưa làm ra đồ dùng thường ngày như rổ rá, chiếu, nón, vải, chum vại, bánh, đậu. Chỉ một số nghề về sau phát triển theo hướng mỹ nghệ, làm hàng trang trí, xuất khẩu. Gốc của chúng là phục vụ đời sống nông thôn.
Có tục ngữ nào nói về nghề phụ không?
Câu "một nghề cho chín còn hơn chín nghề" thường được dùng để khuyên theo đuổi một nghề đến nơi đến chốn. Câu "nhất sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ" phản ánh vị trí của nghề nông khi thiếu ăn. Mỗi câu nên hiểu trong bối cảnh lời nói, không phải luật chung.
Làm sao tìm hiểu nghề phụ ngày xưa ở quê mình?
Hỏi người già trong làng xem làng mình từng làm nghề gì lúc nông nhàn, ai làm giỏi, bán ở chợ nào, nghề còn hay mất. Tìm đồ vật cũ trong nhà như khung cửi, khuôn bánh, dao chẻ nan. Ghi lại cách làm bằng ảnh, video có sự đồng ý của người kể.