Lễ cầu mưa và lễ rước nước là những lễ nhà nông xưa làm để cầu nước cho ruộng: rước nước sạch từ giữa sông về đình đầu mùa, cầu đảo khi trời hạn kéo dài, cúng bến nước, đầu nguồn ở làng vùng cao. Ở đồng bằng Bắc Bộ, tín ngưỡng Tứ Pháp với bốn bà mây, mưa, sấm, chớp quanh vùng Dâu (Bắc Ninh) là hệ thống cầu mưa tiêu biểu nhất của cư dân lúa nước.
Những lễ này cho biết nỗi lo lớn nhất của người làm ruộng trước khi có thuỷ lợi hiện đại là nước: thiếu thì mất mùa, thừa thì vỡ đê. Bài dưới đi qua các dạng lễ chính ở nhiều vùng, giải thích vì sao các lễ hay rơi vào cuối mùa khô, và đặt chúng cạnh hiểu biết khí tượng, thuỷ lợi ngày nay, để thấy phần nào là niềm tin, phần nào là kinh nghiệm quản lý nước còn dùng được.
Vì sao nước là nỗi lo số một của nhà nông xưa
Cây lúa nước cần ruộng ngập trong phần lớn thời gian sinh trưởng. Ở đồng bằng Bắc Bộ, vụ chiêm xuân rơi vào mùa khô hanh, nước sông xuống thấp; vụ mùa lại trùng mùa mưa bão, nước sông dâng cao. Một năm nhà nông có thể gặp cả hạn đầu vụ lẫn lụt cuối vụ, và cả hai đều có thể làm mất trắng ruộng.
Ở duyên hải Nam Trung Bộ, nhất là vùng Ninh Thuận cũ (nay thuộc Khánh Hoà) và Bình Thuận cũ (nay thuộc Lâm Đồng), lượng mưa năm thuộc loại thấp nhất cả nước, mùa khô kéo dài, đất cát nóng. Ở Tây Nguyên, lúa rẫy dựa hoàn toàn vào mưa; mưa đến muộn vài tuần là hạt tra xuống không nảy, cả làng phải tra lại. Đồng dao còn ghi lại nỗi lo ấy qua bài hát trẻ con mở đầu bằng câu "Lạy trời mưa xuống", xin nước để uống, ruộng để cày, được hát khắp đồng bằng mỗi khi nắng hạn kéo dài.
Trong bối cảnh ấy, mọi cộng đồng làm nông đều phát triển hai loại ứng xử song song: một là công trình giữ và dẫn nước như đê, mương, phai, đập, giếng; hai là các lễ cầu nước, cúng nguồn nước. Hai thứ này không loại trừ nhau. Thường thì nơi nào có công trình nước cổ, nơi đó cũng có lễ gắn với công trình ấy.
Tứ Pháp và hội Dâu: hệ thống cầu mưa của đồng bằng Bắc Bộ
Tứ Pháp là bốn vị nữ thần mang tên Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện, tương ứng mây, mưa, sấm, chớp. Trung tâm của tín ngưỡng này là vùng Dâu, Luy Lâu cổ, thuộc Bắc Ninh ngày nay, với chùa Dâu thờ Pháp Vân và các chùa thờ ba vị còn lại ở quanh vùng.
Truyền thuyết kể về nàng Man Nương và nhà sư Khâu Đà La, từ đó sinh ra một người con được hoá vào cây; cây ấy về sau được tạc thành bốn pho tượng. Câu chuyện là sự kết hợp giữa tín ngưỡng thờ các hiện tượng tự nhiên của cư dân lúa nước bản địa và Phật giáo du nhập từ rất sớm qua vùng Luy Lâu.
Hội Dâu diễn ra vào khoảng mùng 8 tháng Tư âm lịch, đúng lúc cuối mùa khô chuyển sang mùa mưa ở Bắc Bộ. Theo sử cũ, đã có những lần triều đình cho rước tượng Pháp Vân về kinh để cầu mưa khi hạn hán. Đến nay, lễ rước các bà Tứ Pháp giữa các chùa vẫn là phần thu hút nhất của hội, với đoàn kiệu, cờ, chiêng trống đi qua những cánh đồng đang chờ nước.
Điều đáng chú ý ở Tứ Pháp là cách người xưa phân chia hiện tượng thời tiết thành bốn thành phần có quan hệ nhân quả: có mây mới có mưa, mưa đi kèm sấm chớp. Cách xếp ấy là một kiểu quan sát khí tượng sơ khai được nhân cách hoá. Với người tìm hiểu văn hoá lúa nước, Tứ Pháp là ví dụ hiếm hoi về một hệ tín ngưỡng nông nghiệp có cả truyền thuyết, hệ thống chùa, lễ hội định kỳ và ghi chép của triều đình, đủ để lần theo qua nhiều thế kỷ.
Lễ rước nước ở làng Việt: những hình thức thường gặp
Rước nước là nghi thức mở đầu của nhiều lễ hội làng đồng bằng, nhất là làng ven sông. Các hình thức hay gặp:
- Rước nước giữa dòng: đoàn thuyền chở kiệu, chum hoặc choé ra giữa sông, nơi nước được coi là trong nhất, người được chọn múc nước bằng gáo vào choé rồi rước về đình.
- Lấy nước giếng làng: ở những làng xa sông, nước lấy từ giếng cổ của làng, giếng đình hoặc giếng chùa, cũng được rước trang trọng.
- Dùng nước rước về: nước được dùng để làm lễ mộc dục (lau tượng, đồ thờ), để cúng và có nơi chia cho dân làng mang về nhà như lộc đầu năm.
- Cướp nước, té nước: ở một số hội, phần hội có cảnh trai làng té nước, giành nước, vừa vui vừa gợi ý nghĩa cầu cho nước dồi dào.
- Rước nước cầu đảo: khi hạn kéo dài giữa vụ, làng có thể làm lễ cầu đảo riêng ở đình, miếu, có rước nước từ sông, giếng về, khác với lễ rước nước định kỳ đầu năm.
Điểm chung là nước được đối xử như một thực thể quý, có nguồn gốc rõ ràng, phải lấy đúng nơi, rước đúng cách. Thái độ ấy gần với ý thức giữ nguồn nước sạch mà ngày nay vẫn cần.
Người Chăm và những công trình nước gắn với lễ
Ở vùng Ninh Thuận cũ, người Chăm có lịch sử làm thuỷ lợi lâu đời trên một vùng đất khô. Nhiều công trình đập dâng, kênh mương cổ như đập Nha Trinh, đập Marên được truyền tụng là có từ thời Chăm Pa; tương truyền việc đắp đập, khơi kênh gắn với vua Po Klong Garai, người được thờ ở tháp cùng tên.
Đi kèm hệ thống ấy là các lễ của cộng đồng Chăm vào đầu mùa làm ruộng như lễ khai mương, đắp đập, lễ cầu đảo khi mưa đến muộn. Lễ thường do các vị chức sắc của cộng đồng chủ trì, có người dân các làng cùng hệ thống kênh tham dự, bởi nước của một con kênh là nước chung của nhiều làng.
Cách tổ chức này cho thấy một điều quan trọng: lễ cầu nước của người Chăm gắn chặt với quản lý nước. Lễ là dịp các làng cùng xác nhận lịch mở nước, cùng góp công nạo vét, cùng chịu trách nhiệm với con kênh. Các nhà nghiên cứu thuỷ lợi truyền thống thường lấy đây làm ví dụ về một hệ quản lý nước cộng đồng tồn tại lâu dài.
Lễ cúng bến nước ở Tây Nguyên và nguồn nước của làng vùng cao
Với các dân tộc Ê Đê, Gia Rai, Ba Na, M'nông và nhiều dân tộc khác ở Tây Nguyên, bến nước là trái tim của làng. Đó là nơi lấy nước ăn, tắm giặt, nơi trai gái gặp nhau, và gắn với lịch sử lập làng. Lễ cúng bến nước thường làm vào mùa khô, sau mùa rẫy hoặc đầu năm mới.
Trong lễ, cả làng cùng dọn bến, sửa máng dẫn nước, rồi cúng mời các vị thần nước, cầu cho nguồn nước không cạn, người trong làng khoẻ mạnh. Sau phần cúng là ăn uống, đánh chiêng, uống rượu cần.
Tục giữ rừng quanh nguồn nước, kiêng chặt cây ở đầu nguồn, kiêng làm bẩn bến nước gắn liền với lễ này. Nhìn bằng con mắt thuỷ văn học hôm nay, giữ thảm rừng đầu nguồn đúng là cách giữ cho mạch nước chảy đều trong mùa khô. Nhiều dân tộc vùng núi phía Bắc cũng có lễ cúng nguồn nước, cúng mó nước với ý nghĩa tương tự, cho thấy đây là một kinh nghiệm chung của cư dân miền núi.
Từ cầu đảo đến hồ chứa: lễ còn lại thế nào khi có thuỷ lợi
Suốt thế kỷ 20, hệ thống thuỷ nông với trạm bơm, kênh cấp một, cấp hai, hồ chứa lớn nhỏ được xây dựng khắp đồng bằng và trung du. Ruộng không còn chỉ trông vào mưa, và nhiều lễ cầu đảo dần thưa đi vì lý do đơn giản: ít khi còn cần đến.
Lễ rước nước định kỳ thì ngược lại, vẫn được giữ ở nhiều làng như phần mở đầu của lễ hội. Lý do là nó đã trở thành một phần bản sắc của làng, gắn với dòng sông, cái giếng mà người làng coi là của mình. Ở một số nơi, lễ rước nước còn được kết hợp với việc vớt rác, làm sạch đoạn sông trước hội, biến nghi lễ cũ thành dịp giữ môi trường.
Khi biến đổi khí hậu làm hạn và mặn xuất hiện thường hơn ở đồng bằng sông Cửu Long và miền Trung, những kinh nghiệm cũ về giữ nước, trữ nước của cộng đồng lại được nhắc lại. Ao làng, giếng làng, mương nhỏ giữa ruộng, những thứ từng gắn với lễ cầu nước, hoá ra là hạ tầng nhỏ có giá trị khi hệ thống lớn gặp khó. Đọc lại các lễ cũ vì thế không chỉ là chuyện văn hoá mà còn là chuyện học kinh nghiệm.
Khí tượng học hôm nay đọc các lễ cầu mưa thế nào
Lễ thường rơi vào lúc mưa sắp đến. Hội Dâu tháng Tư âm lịch, lễ cầu mưa của nhiều dân tộc vào cuối mùa khô đều trùng thời điểm khí hậu chuyển mùa. Vì vậy sau lễ thường có mưa, không phải do lễ mà do mùa. Hiểu điều này giúp đọc lễ như một mốc nông lịch đúng chứ không phải phép màu.
Câu chuyện con cóc có cơ sở quan sát. Truyện Cóc kiện Trời và câu "con cóc là cậu ông Trời" gắn cóc với mưa. Thực tế cóc, ếch nhái hoạt động và kêu nhiều khi độ ẩm không khí tăng cao, thường là trước và trong những đợt mưa. Người xưa quan sát đúng hiện tượng, rồi kể thành truyện.
Mưa không thể gọi bằng lễ, nhưng có thể giữ bằng công trình. Kinh nghiệm thật sự giúp nhà nông qua hạn là ao, hồ, đập, giếng, kênh mương và chọn thời vụ hợp lý. Các lễ thường đi kèm chính những công trình ấy, nhắc cộng đồng giữ gìn chúng.
Kỹ thuật làm mưa nhân tạo hôm nay không thay được thuỷ lợi. Một số nước thử gieo hạt mây để tăng mưa; hiệu quả còn được tranh luận và chỉ có tác dụng khi đã có mây phù hợp. Với nông nghiệp, giải pháp bền vẫn là trữ nước, tưới tiết kiệm và lịch thời vụ theo dự báo.
Giá trị của lễ nằm ở cộng đồng. Một buổi cầu mưa tập hợp cả làng, nhắc nhau chia nước, sửa mương, động viên nhau qua lúc khó. Đó là phần giá trị bền vững nhất của di sản này.
Câu hỏi thường gặp
Tứ Pháp gồm những vị nào?
Tứ Pháp gồm bốn vị nữ thần Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện, tương ứng mây, mưa, sấm, chớp. Trung tâm thờ Tứ Pháp là vùng Dâu thuộc Bắc Ninh, nơi chùa Dâu thờ Pháp Vân, còn ba vị kia được thờ ở các chùa quanh vùng.
Hội Dâu diễn ra vào ngày nào?
Hội Dâu thường diễn ra khoảng mùng 8 tháng Tư âm lịch, trùng lúc chuyển mùa từ khô sang mưa ở Bắc Bộ. Lịch cụ thể từng năm do địa phương công bố, nên nên xem thông báo trước khi đi.
Lễ rước nước khác lễ cầu đảo thế nào?
Rước nước thường là nghi thức định kỳ mở đầu lễ hội làng, lấy nước sạch về đình để dùng trong lễ. Cầu đảo là lễ làm khi có hạn hán kéo dài, mục đích cụ thể là cầu mưa. Một làng có thể có cả hai.
Câu "con cóc là cậu ông Trời" có ý nghĩa gì?
Câu này đến từ truyện Cóc kiện Trời, kể cóc lên trời đòi mưa cho hạ giới. Nó phản ánh quan sát dân gian rằng cóc kêu nhiều khi trời sắp mưa. Ngày nay ta biết điều đó gắn với độ ẩm không khí tăng, không phải cóc gọi được mưa.
Người Chăm có lễ cầu mưa không?
Có. Người Chăm ở vùng khô hạn Ninh Thuận cũ, nay thuộc Khánh Hoà, có các lễ gắn với đắp đập, khơi mương và cầu đảo khi mưa đến muộn. Lễ do chức sắc cộng đồng chủ trì và gắn chặt với hệ thống kênh mương cổ của vùng.
Vì sao các lễ cầu mưa thường có vẻ linh nghiệm?
Vì lễ thường được tổ chức vào cuối mùa khô, khi mùa mưa sắp đến theo quy luật khí hậu. Mưa đến sau lễ là do chuyển mùa. Hiểu như vậy giúp tôn trọng lễ như di sản mà vẫn giữ cách nhìn khoa học về thời tiết.