PhuNong.comPhú Nông
Nông lịch, tiết khí và mùa vụ

Mùa nước nổi trong nông lịch miền Tây: lũ lên, lũ rút và nhịp làm ăn của nhà nông

Nước nổi lên từ khoảng tháng 7, đỉnh tháng 9 – 10, rút tháng 11 – 12. Vì sao lũ miền Tây hiền, người xưa sống và làm ruộng theo nhịp ấy ra sao, và lũ nay đổi thế nào.

A small wooden boat gliding over a flooded field among yellow sesbania flowers, a farmer paddling seen from behind, misty morning in the Mekong Delta

Mùa nước nổi ở đồng bằng sông Cửu Long thường bắt đầu khoảng tháng 7 dương lịch, nước lên cao nhất vào tháng 9 – tháng 10 và rút dần trong tháng 11 – tháng 12. Đây là lũ của sông Mê Kông dâng lên từ từ, tràn đồng vài tháng rồi rút, khác hẳn kiểu lũ quét dữ dội ở miền Trung, nên người miền Tây gọi là "nước nổi" chứ ít gọi là "lũ".

Trong nông lịch truyền thống của vùng đầu nguồn như An Giang, Đồng Tháp và vùng Long An cũ (nay thuộc Tây Ninh), mùa nước nổi là một mùa làm ăn chứ không chỉ là thiên tai: nước mang cá về, mang phù sa lên ruộng, rửa phèn, diệt chuột, rồi khi rút để lại mặt ruộng mới cho vụ lúa sau. Bài này kể lại nhịp ấy và những gì đã đổi trong mấy chục năm gần đây.

Vì sao lũ miền Tây lên chậm và hiền

Sông Mê Kông dài hơn 4.000 km, chảy qua Trung Quốc, Myanmar, Lào, Thái Lan, Campuchia rồi mới vào Việt Nam. Mùa mưa ở thượng và trung lưu, cộng với tuyết tan ở vùng cao nguyên phía bắc, làm nước sông lên dần từ khoảng tháng 6. Khi về đến hạ lưu, con lũ đã đi một quãng rất dài nên dâng lên chậm, mỗi ngày chỉ vài phân, cho người dân thời gian chuẩn bị.

Có một "bộ giảm xóc" tự nhiên quan trọng nằm ở Campuchia: Biển Hồ Tonle Sap. Mùa lũ, nước sông Mê Kông dâng cao đến mức chảy ngược vào Biển Hồ qua sông Tonle Sap, làm hồ nở rộng gấp nhiều lần; mùa khô, dòng chảy đảo chiều, Biển Hồ trả nước về sông. Nhờ hiện tượng hiếm có này, đỉnh lũ ở đồng bằng Việt Nam được cắt bớt và mùa khô vẫn còn nước.

Nước tràn qua biên giới vào hai vùng trũng lớn là Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên, rồi lan dần xuống các vùng thấp hơn. Ở vùng đầu nguồn, nước có thể ngập đồng sâu vài mét; về phía hạ lưu, gần biển, nước ngập nông hơn và chịu ảnh hưởng thuỷ triều. Vì vậy cùng một mùa nước nổi, nhịp sống ở Tân Châu, Hồng Ngự khác hẳn nhịp sống ở Cần Thơ hay Cà Mau.

Dân gian có câu "tháng bảy nước nhảy khỏi bờ" để chỉ thời điểm nước bắt đầu tràn đồng, khoảng tháng 7 âm lịch, tức tháng 8 – tháng 9 dương lịch. Câu này khớp khá tốt với số liệu thuỷ văn ở vùng đầu nguồn trong những năm lũ trung bình.

Một năm nước nổi qua lời kể của nhà nông đầu nguồn

Khung dưới đây ghép từ nhiều lời kể và mô tả về vùng đầu nguồn trước khi có đê bao kín; mỗi năm nước sớm muộn khác nhau.

  • Tháng 5 – tháng 6: mưa đầu mùa, làm đất, gieo lúa nổi hoặc lúa mùa ở chân cao; sửa xuồng ghe, đan lọp, vá lưới chuẩn bị mùa cá.
  • Tháng 7 – tháng 8: nước bắt đầu vào kênh rạch rồi tràn đồng; cá linh non theo nước về; gặt vội lúa hè thu ở nơi có làm.
  • Tháng 9 – tháng 10: nước lên cao nhất; đi lại chủ yếu bằng xuồng; mùa cá linh, cá chốt, cá rô, mùa hái bông điên điển, bông súng; chuột đồng bị nước đẩy lên gò.
  • Tháng 11 – tháng 12: nước rút; cá lớn theo nước về sông, người ta đón bắt ở cửa kênh, đắp đập; gặt lúa nổi bằng xuồng; ruộng lộ ra lớp bùn non.
  • Tháng 12 – tháng 1: gieo sạ lúa đông xuân trên lớp phù sa vừa lắng, thường không cần cày xới nhiều; mùa gặt sẽ rơi vào khoảng Tết hoặc sau Tết.

Trong khung ấy, đồng ruộng không bao giờ "nghỉ": khi không có lúa thì có cá, có bông, có rau; khi không có cá thì có lúa. Đó là logic của một nền nông nghiệp thích nghi với nước, không chống lại nước.

Những gì nước nổi mang lại cho ruộng đồng

Phù sa. Nước lũ chở bùn mịn từ thượng nguồn và lắng lại khi chảy chậm trên đồng. Lớp phù sa mỏng mỗi năm bổ sung dinh dưỡng và làm mới mặt ruộng; người già hay nói ruộng "được nước" thì năm sau lúa tốt.

Rửa phèn, rửa độc. Ở vùng đất phèn, nước lũ ngập lâu giúp pha loãng và cuốn bớt phèn trên mặt ruộng. Lũ cũng cuốn trôi một phần mầm sâu bệnh, trứng sâu tích tụ sau vụ lúa.

Diệt chuột và cắt cầu nối dịch hại. Khi đồng ngập, chuột đồng mất chỗ ở, bị dồn lên gò, bờ cao. Ruộng không có lúa vài tháng cũng làm đứt chu kỳ của nhiều loài sâu hại. Đây là lợi ích mà người làm ruộng cảm nhận rõ khi so năm có lũ với năm không lũ.

Nguồn cá và thức ăn. Cá linh, cá chốt, cá lóc, cá rô theo nước lên đồng sinh sản và lớn nhanh nhờ nguồn thức ăn dồi dào. Mùa nước nổi là mùa "lộc trời" cho nhà nông không có ruộng hoặc nhà có ít ruộng.

Nước ngọt cho mùa khô. Lũ nạp nước cho kênh rạch, ao vườn, tầng nước ngầm nông, giúp mùa khô năm sau bớt thiếu nước và đẩy lùi mặn. Năm lũ nhỏ, mùa khô kế tiếp thường gặp mặn nặng hơn ở vùng ven biển.

Lúa nổi: cây lúa chạy đua với nước

Ở vùng ngập sâu, trước khi có đê bao, lúa nổi là cây lúa chính. Đây là loại lúa có khả năng vươn thân theo mực nước, mỗi ngày có thể dài thêm hàng chục phân khi nước lên nhanh, nhờ vậy bông lúa luôn ở trên mặt nước. Thân lúa có khi dài tới vài mét, rễ mọc ra ở các đốt để hút dinh dưỡng trong nước.

Lịch lúa nổi rất khác lúa cấy: gieo sạ khô trước mùa mưa, khoảng tháng 4 – tháng 5, để cây kịp lớn trước khi nước về; nước lên thì lúa lên theo; khi nước rút, thân lúa đổ rạp trên mặt ruộng và bông lúa được gặt, có khi phải dùng xuồng. Năng suất thấp, nhưng gần như không cần chăm, không cần phân, và gạo được nhiều người lớn tuổi nhớ là thơm, dẻo.

Khi đê bao và lúa ba vụ mở rộng, diện tích lúa nổi giảm mạnh, đến nay chỉ còn một vài nơi ở An Giang giữ lại như một hệ canh tác truyền thống và một phần di sản. Chi tiết về kỹ thuật và vùng còn lúa nổi thuộc phần ruộng bậc thang, thuỷ lợi và hệ canh tác truyền thống của trang; ở đây chỉ cần nhớ lúa nổi là cách lịch mùa xưa "nhường" cho nước.

Nhà cửa, đi lại và nếp sống theo mùa nước

Nhịp nước nổi định hình cả cách cất nhà. Nhà ở vùng ngập sâu thường dựng trên cột cao, sàn cao hơn mực nước những năm lớn; nhiều nhà có gác lửng để chất lúa, đồ đạc khi nước lên bất thường. Mỗi nhà có xuồng, ghe, và trẻ con biết bơi, biết bơi xuồng từ rất nhỏ. Những năm gần đây, các cụm, tuyến dân cư trên nền đất đắp cao là cách tổ chức chỗ ở mới cho vùng lũ.

Chợ, trường học, đám tiệc mùa nước nổi đều chạy theo nước. Nhiều nơi trẻ con đi học bằng xuồng; đám cưới, đám giỗ dời trước hoặc sau đỉnh lũ. Người lớn tuổi thường tính thời gian bằng mực nước: "năm nước tới cột thứ ba", "năm nước ngập nền nhà", như một kiểu sổ ghi lũ truyền miệng.

Cụm từ "sống chung với lũ" được dùng rộng rãi trong chính sách vùng đồng bằng sông Cửu Long từ khoảng đầu những năm 2000, sau trận lũ lớn năm 2000. Thực ra người dân đầu nguồn đã sống chung với lũ hàng trăm năm trước khi có cụm từ ấy; điều mới là quy mô hạ tầng: đê bao, cụm dân cư, đường vượt lũ.

Ẩm thực cũng theo mùa nước: lẩu cá linh bông điên điển, mắm cá linh, cá linh kho, canh chua bông súng là những món gắn chặt với tháng 9, tháng 10. Với nhiều người quê miền Tây đang ở phố, vị mắm cá linh là cách nhớ mùa nhanh nhất.

Mùa nước nổi là mùa của người không ruộng

Trong ký ức nhiều gia đình đầu nguồn, mùa nước nổi là lúc người nghèo, người không có ruộng có thêm sinh kế. Khi đồng ngập trắng, ranh giới ruộng tư gần như biến mất dưới mặt nước, và theo tập quán nhiều nơi, cá tôm tự nhiên trên đồng ngập là của chung, ai có xuồng, có lưới đều có thể ra bắt.

Các ngư cụ mùa nước rất đa dạng và mỗi loại gắn với một giai đoạn của con nước. Đầu mùa, khi nước mới tràn, người ta giăng lưới mắt nhỏ đón cá linh non. Giữa mùa, đặt lọp, đặt dớn dọc bờ ruộng ngập, giăng câu cá lóc, cá rô. Cuối mùa, khi nước rút, đóng đăng, đắp đập chặn ở cửa kênh, cửa rạch để đón cá lớn theo nước về sông, là lúc thu hoạch nhiều nhất.

Quanh nghề cá là cả một chuỗi việc: đan lưới, vót nan làm lọp, làm mắm, phơi khô, chở cá ra chợ. Phụ nữ và trẻ em hái bông điên điển, bông súng, rau nhút để bán hoặc ăn. Một ví dụ giả định: gia đình chỉ có mảnh vườn nhỏ, mùa khô đi làm thuê gặt lúa, mùa nước ở nhà giăng lưới, làm mắm, đến Tết có thêm khoản dành dụm.

Khi đê bao khép kín và lũ nhỏ đi, phần đồng ngập của chung thu hẹp lại. Đây là một thay đổi ít được nhắc nhưng sâu sắc: lịch mùa nước nổi không chỉ là lịch của lúa và cá, mà là lịch sinh kế của những người đứng ngoài ruộng lúa.

Lũ nhỏ dần: lịch mùa xưa đang đổi

Từ khoảng những năm 2010, nhiều năm đồng bằng sông Cửu Long ghi nhận lũ nhỏ hoặc gần như không có lũ ở vùng đầu nguồn, dân gian gọi là "năm không có nước nổi". Các nghiên cứu chỉ ra nhiều nguyên nhân cùng tác động: hệ thống đập thuỷ điện ở thượng nguồn giữ nước mùa lũ và xả mùa khô, biến động lượng mưa, đê bao trong vùng làm thay đổi đường đi của nước, và khai thác cát lòng sông.

Khi lũ nhỏ, nhịp sống truyền thống bị đứt: cá linh về ít, nghề lưới mùa nước thưa người, phù sa bồi lên ruộng giảm, chuột và sâu bệnh có điều kiện tồn tại qua năm. Mùa khô sau những năm lũ nhỏ, nước mặn có xu hướng lấn sâu hơn, như các đợt hạn mặn gay gắt mùa khô 2015 – 2016 và 2019 – 2020.

Một số địa phương đã thử điều chỉnh lịch: mở cống đê bao luân phiên cho lũ vào đồng một năm sau vài năm ba vụ, thay vụ thu đông bằng nuôi cá đồng, trồng sen, trồng lúa mùa nước. Những thử nghiệm ấy cho thấy nông lịch không phải thứ cố định; nó luôn là thoả thuận giữa con người với nước, và khi nước đổi thì thoả thuận phải viết lại.

Câu hỏi thường gặp

Mùa nước nổi miền Tây khác lũ miền Trung thế nào?

Lũ miền Tây đến từ sông Mê Kông, lên chậm vài phân mỗi ngày và kéo dài nhiều tháng, nên người dân chủ động được. Lũ miền Trung do mưa lớn trên sông ngắn, dốc, lên rất nhanh trong vài giờ và rút cũng nhanh, gây thiệt hại đột ngột hơn nhiều.

Vì sao gọi là "nước nổi" mà không gọi là lũ?

Vì nước dâng lên từ từ như mặt đồng "nổi" lên, ít khi gây chảy xiết. Người dân xem đó là một mùa tự nhiên của năm, có cả cái lợi lẫn cái hại. Trong văn bản hành chính và khí tượng thuỷ văn vẫn dùng chữ lũ, với các mức báo động theo mực nước.

Năm 2000 lũ lớn đến mức nào?

Lũ năm 2000 được xem là trận lũ lớn nhất ở đồng bằng sông Cửu Long trong nhiều thập kỷ, đến sớm, lên cao và kéo dài, gây thiệt hại nặng về người và tài sản ở An Giang, Đồng Tháp và vùng Long An cũ. Sau trận lũ này, chính sách xây cụm, tuyến dân cư vượt lũ được đẩy mạnh.

Cá linh liên quan gì đến lịch mùa nước?

Cá linh sinh sản ở thượng nguồn, cá con theo dòng lũ trôi về đồng bằng từ khoảng tháng 7 – tháng 8, lớn lên trên đồng ngập rồi theo nước rút ra sông. Vì thế mùa cá linh trùng gần như hoàn toàn với mùa nước nổi, và năm lũ nhỏ thì cá linh cũng ít.

Mùa nước nổi có còn đáng để tìm hiểu nếu lũ đang nhỏ dần?

Có. Nhịp nước nổi đã định hình nhà cửa, ẩm thực, nghề phụ, lễ hội và cả cách tính thời gian của người miền Tây qua hàng trăm năm. Ghi lại lời kể của người lớn tuổi về những năm nước lớn là giữ một phần ký ức vùng đất đang thay đổi nhanh.

Mùa nước nổi ở Cần Thơ, Cà Mau có giống An Giang không?

Không giống hẳn. Vùng đầu nguồn như An Giang, Đồng Tháp ngập sâu và lâu; về phía Cần Thơ nước lên ít hơn và chủ yếu là triều cường kết hợp lũ cuối mùa. Ở Cà Mau gần như không có nước nổi theo nghĩa lũ sông Mê Kông, mà chủ yếu chịu ảnh hưởng của mưa và thuỷ triều.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.