Trẻ con làng quê xưa lớn lên theo nhịp mùa vụ như người lớn: mùa giáp hạt đi mò cua, bắt ốc góp vào bữa cơm, mùa gặt mót lúa, trông em, gánh cơm ra đồng, mùa hè thả diều trên cánh đồng trơ rạ, mùa đông nhặt củi, nướng khoai. Ranh giới giữa chơi và làm rất mờ: bắt cua vừa là niềm vui vừa là việc nhà, chăn trâu vừa là trách nhiệm vừa là lúc rảnh để thả diều.
Bài này đi qua một năm của trẻ con nhà nông xưa ở các vùng, những việc trẻ làm theo tuổi, những thú chơi theo mùa và đồ chơi tự làm từ cây lá, rơm rạ. Bài cũng nhắc mặt khó của tuổi thơ ấy, để ký ức không bị tô hồng.
Chơi và làm không tách rời: trẻ con trong kinh tế nhà nông
Trong gia đình nông dân xưa, trẻ con là một phần sức lao động. Không ai coi trẻ là người làm chính, nhưng mỗi tuổi có một phần việc phù hợp: trẻ năm sáu tuổi trông em, cho gà ăn, nhặt rau; trẻ tám mười tuổi chăn trâu, cắt cỏ, mò cua, gánh nước; trẻ mười hai mười ba tuổi đã ra đồng cấy, gặt cùng người lớn trong mùa cao điểm.
Những việc này không được coi là bóc lột mà là cách trẻ học nghề. Không có trường dạy làm ruộng; con cái học từ việc đi theo cha mẹ, làm việc nhỏ trước, việc lớn sau. Đến tuổi mười lăm, mười sáu, một người con nhà nông đã biết gần đủ việc của mùa vụ, từ chọn mạ, cấy, gặt đến phơi thóc.
Đồng thời, trẻ con vẫn chơi, và chơi ngay trong lúc làm. Đứa trẻ chăn trâu thả diều trên bờ đê, bọn trẻ mò cua thi xem ai bắt được nhiều, nhóm trẻ trông em chơi ô ăn quan dưới gốc cây. Chính sự đan xen ấy làm cho ký ức tuổi thơ làng quê vừa nặng nhọc vừa đầy niềm vui, khiến nhiều người lớn tuổi kể lại với cảm xúc lẫn lộn.
Trẻ con giúp được gì theo tuổi, ở một gia đình nông dân xưa
Bảng dưới là bức tranh chung ở làng đồng bằng Bắc Bộ, ví dụ giả định dựa trên nhiều lời kể. Từng gia đình, từng vùng có thể khác, và trẻ nhà khá giả thường được đi học nhiều hơn, làm ít hơn.
| Tuổi | Việc thường làm | Học được gì |
|---|---|---|
| 5 – 7 tuổi | Trông em nhỏ, cho gà vịt ăn, nhặt rau, nhặt củi khô | Trách nhiệm với người nhỏ hơn, biết các loại rau, cây |
| 8 – 10 tuổi | Chăn trâu, cắt cỏ, mò cua bắt ốc, mót lúa, gánh nước nhẹ | Hiểu ruộng đồng, biết con vật, biết nơi nào có cua cá |
| 11 – 13 tuổi | Gánh cơm ra đồng, phơi thóc, đảo thóc, cấy gặt cùng người lớn ngày cao điểm | Nhịp mùa vụ, các công đoạn của một vụ lúa |
| 14 – 16 tuổi | Cày bừa (con trai), cấy thạo (con gái), đi chợ, làm nghề phụ | Gần như đủ việc của một lao động chính |
Phân công theo giới trong bảng phản ánh tập quán xưa, không phải quy tắc nên giữ. Ngày nay khi dạy trẻ về nghề nông qua trải nghiệm, trai hay gái đều có thể thử mọi việc.
Mùa xuân và mùa giáp hạt: hái rau, mò cua, đi hội
Sau Tết, trẻ con được đi hội làng, xem rước, xem vật, đánh đu. Đó là quãng vui nhất năm. Nhưng sang tháng Hai, tháng Ba, khi thóc trong bồ vơi đi, việc của trẻ là kiếm thêm cái ăn: hái rau dại ở bờ ruộng, bờ mương, mò cua trong ruộng lúa chiêm đang lớn, bắt ốc, bắt tép ở ao.
Mò cua đòi hỏi kinh nghiệm: biết hang cua ở bờ ruộng hình dạng ra sao, thò tay vào thế nào để không bị kẹp, đi chiều nào để cua ra khỏi hang. Nhiều đứa trẻ tám chín tuổi đã thuộc từng bờ ruộng của làng, biết đoạn nào nhiều cua, đoạn nào có rắn nước. Giỏ cua mang về được mẹ giã lọc nấu canh rau, là món ăn quen thuộc của mùa giáp hạt.
Ở vùng trung du, vùng núi, trẻ con đi hái măng, đào củ, hái quả rừng theo người lớn. Ở miền Tây, trẻ con giăng câu, đặt lọp bắt cá ở mương vườn. Mỗi vùng một cách, nhưng điểm chung là trẻ con hiểu thiên nhiên quanh làng rất sớm, vì thiên nhiên ấy góp vào bữa ăn của cả nhà. Nhiều người lớn tuổi đến nay vẫn gọi đúng tên từng loại rau dại, biết loại nào ăn được, loại nào phải tránh, nhờ những mùa xuân đi hái rau từ khi còn bé.
Mùa hè và mùa gặt: mót lúa, trông em, thả diều trên đồng trơ rạ
Mùa gặt chiêm vào đầu hè là lúc trẻ con bận nhất. Đứa lớn ra đồng gặt cùng người lớn hoặc đảo thóc trên sân; đứa nhỏ trông em, nấu cơm, gánh nước chè ra ruộng. Khi ruộng gặt xong, trẻ con cầm rổ đi mót lúa, nhặt từng bông rơi, gom lại được vài bát thóc là niềm tự hào mang về khoe mẹ.
Cũng chính lúc này, cánh đồng sau gặt trơ gốc rạ trở thành sân chơi rộng nhất. Gió nam mùa hè thổi đều, trẻ con chăn trâu thả diều trên bờ đê, trên cánh đồng trống. Diều sáo có gắn ống sáo làm từ tre, bầu khô hay ống nứa, khi gió thổi qua tạo tiếng vi vu trên trời. Thả diều sáo từ chiều đến tối là hình ảnh nhiều nhà thơ, nhà văn nhắc lại khi viết về làng quê Bắc Bộ.
Diều to có khi được để qua đêm trên trời, buộc dây vào gốc tre, sáng ra mới thu về. Tiếng sáo diều trong đêm hè, nghe từ chiếc giường tre kê ngoài sân, là thứ âm thanh nhiều người xa quê nhắc tới đầu tiên khi được hỏi về làng.
Mùa hè cũng là mùa tắm sông, tắm ao, câu cá, câu ếch, bắt ve sầu, bắt chuồn chuồn. Trẻ con lội cả ngày dưới nước, da cháy nắng. Nhưng đó cũng là mùa nguy hiểm nhất, vì đuối nước là tai nạn thường gặp ở trẻ nông thôn, xưa cũng như nay. Người lớn bận ngoài đồng, trẻ con tự tắm với nhau ở sông, ao sâu là chuyện nhiều làng từng phải trả giá.
Mùa thu và mùa đông: Trung thu, nướng khoai, nhặt lá
Tháng Tám âm lịch có Tết Trung thu, vốn được coi là Tết của trẻ con. Ở làng xưa, Trung thu đơn giản hơn ở phố: đèn ông sao làm bằng tre và giấy bóng kính, cỗ trông trăng có bưởi, hồng, ổi, bánh tự làm, rước đèn quanh xóm. Trung thu rơi vào quãng giáp hạt thứ hai và trước gặt mùa, nên với nhiều nhà nghèo, mâm cỗ rất khiêm tốn, nhưng niềm vui rước đèn thì không thiếu.
Sau gặt mùa, trẻ con lại có việc: nhặt rơm rạ, phơi rơm, đi bắt cua cá ở những mương nước rút, tát vũng nước để bắt cá rô, cá diếc. Khoai lang trồng trên ruộng cao sau vụ mùa là món ăn vặt của mùa đông: đào củ, vùi vào đống rơm đang cháy hay tro bếp, nướng chín thơm. Nhiều người nhớ mãi củ khoai nướng ăn ngoài đồng mùa đông.
Mùa đông Bắc Bộ rét, trẻ con đi nhặt lá tre, lá bàng, cành khô về đun bếp, quây quần quanh bếp lửa buổi tối. Đây cũng là mùa trẻ con nhà có điều kiện đi học chữ nhiều nhất vì ruộng rảnh. Ở miền Nam không có mùa đông lạnh, nhịp này được thay bằng mùa khô, mùa của tát đìa, bắt cá, thả diều trên những cánh đồng khô nẻ.
Những thú chơi và đồ chơi tự làm theo mùa
Diều giấy bản, diều sáo. Khung tre vót mỏng, dán giấy bản hoặc giấy dó, dây diều bằng chỉ gai hay sợi đay. Diều to có gắn sáo, phải người lớn giúp mới làm được. Mùa thả diều là mùa gió nam, sau gặt chiêm.
Trâu lá đa, châu chấu lá dừa. Lá đa gấp lại, cắm que tre thành con trâu; lá dừa tết thành con châu chấu, con cào cào. Đồ chơi này làm trong vài phút, chơi chán thì bỏ, không tốn gì.
Kèn lá lúa, sáo ống rạ. Cuốn lá lúa thành kèn, cắt ống rạ làm sáo, thổi được những tiếng kêu đơn giản. Đây là đồ chơi của mùa lúa xanh và mùa gặt.
Ô ăn quan, đánh khăng, đánh đáo. Ô ăn quan kẻ trên đất, quân là sỏi hoặc hạt; đánh khăng dùng hai đoạn gậy tre; đánh đáo dùng đồng xu hay mảnh sành. Những thú chơi này không cần đồ mua, chơi được ở sân đình, bờ ao.
Đèn ông sao, đèn kéo quân. Làm từ tre và giấy màu cho Trung thu. Đèn kéo quân cần khéo tay hơn, thường do người lớn làm, bóng các hình xoay quanh nhờ hơi nóng của ngọn nến.
Chọi dế, bắt chuồn chuồn. Mùa hè trẻ con đi bắt dế trong khe đất, nuôi trong ống tre, cho chọi nhau. Bắt chuồn chuồn bằng cành tre có nhựa dính hoặc bằng tay. Đây là thú chơi gắn với thiên nhiên quanh ruộng.
Không tô hồng: mặt khó của tuổi thơ nhà nông xưa
Kể về tuổi thơ làng quê, người ta dễ chỉ nhớ những buổi thả diều, những củ khoai nướng. Nhưng lời kể của nhiều người lớn tuổi còn có những mặt khác: đói vào mùa giáp hạt, phải nghỉ học để giúp gia đình, làm việc nặng sớm, ít được chăm sóc khi ốm, tai nạn đuối nước, rắn cắn, ngã từ lưng trâu.
Nhắc những mặt ấy không phải để chê quá khứ, mà để hiểu đúng. Trẻ con làng xưa lớn lên khoẻ, khéo tay, hiểu thiên nhiên và biết chia sẻ, nhưng cũng chịu những thiệt thòi mà trẻ em ngày nay được bảo vệ khỏi. Việc trẻ em được đi học đầy đủ, được chăm sóc y tế, được bảo vệ khỏi lao động nặng là thành quả nên trân trọng.
Gánh nặng cũng không chia đều. Con gái thường phải nghỉ học sớm hơn con trai để trông em, nấu cơm, làm nghề phụ cùng mẹ; con cả gánh nhiều hơn con út. Khi ghi lại ký ức tuổi thơ của ông bà, nên hỏi riêng các bà, các mẹ, vì câu chuyện của họ thường khác hẳn câu chuyện thả diều, chăn trâu mà các ông hay kể.
Với cha mẹ ở phố muốn con hiểu về làng quê, cách tốt là cho con trải nghiệm phần vui và hữu ích: thả diều, nhặt trứng gà, hái rau, đi theo ông bà ra ruộng, nghe kể chuyện. Kèm với đó là những câu chuyện thật về sự vất vả, để con hiểu bát cơm có từ đâu, không phải để con sợ hay thương hại người ở quê.
Câu hỏi thường gặp
Diều sáo là gì?
Diều sáo là loại diều có gắn ống sáo làm từ tre, nứa hoặc bầu khô. Khi diều bay cao, gió thổi qua ống sáo tạo ra tiếng vi vu. Diều sáo phổ biến ở đồng bằng Bắc Bộ, thường thả vào mùa hè khi gió nam thổi đều trên những cánh đồng sau gặt.
Trẻ con nông thôn xưa có được đi học không?
Tuỳ gia cảnh và thời kỳ. Trẻ nhà khá giả có thể học chữ ở trường làng hoặc nhà thầy đồ, thường học nhiều vào lúc nông nhàn và nghỉ khi vào vụ. Trẻ nhà nghèo thường ít được học hoặc học muộn. Mỗi thời kỳ, việc học ở nông thôn có những thay đổi lớn.
Vì sao mót lúa từng là việc của trẻ con?
Vì mót lúa là việc nhẹ, không cần sức nhiều mà cần mắt tinh và kiên nhẫn, hợp với trẻ. Bông lúa rơi sau gặt nếu không nhặt sẽ bị vịt, chim, chuột ăn. Với gia đình nghèo, vài bát thóc mót được có ý nghĩa thật trong mùa thiếu ăn.
Những đồ chơi dân gian nào dễ làm cùng trẻ ngày nay?
Trâu lá đa, châu chấu lá dừa, kèn lá, chong chóng giấy, diều giấy đơn giản và ô ăn quan kẻ trên sân là những thứ dễ làm, ít tốn kém. Cha mẹ nên làm cùng con, kể kèm câu chuyện ngày xưa ông bà làm thế nào, để đồ chơi trở thành một bài học về làng quê.
Làm sao cho trẻ ở phố trải nghiệm làng quê an toàn?
Luôn có người lớn đi kèm khi trẻ ra ruộng, ao, sông. Không để trẻ tự tắm ở ao, sông. Đội mũ, mang nước, đi giày khi đi đồng. Trước khi cho trẻ lại gần trâu bò, hỏi người chăm con vật. Nên chọn việc vừa sức như hái rau, nhặt trứng, thả diều.
Kể chuyện tuổi thơ làng quê cho trẻ thế nào để không thành "ngày xưa khổ lắm"?
Kể cụ thể, cân bằng cả cái vui lẫn cái khó: một lần bắt được giỏ cua to, một lần phải nghỉ học đi gặt. Hỏi con nghĩ gì, so sánh với đời sống hiện tại mà không biến thành bài giảng. Trẻ nhớ những câu chuyện có nhân vật và chi tiết hơn những lời nhận xét chung.