Ở đồng bằng sông Cửu Long, vụ đông xuân xuống giống khoảng tháng 11 – tháng 12 và gặt tháng 2 – tháng 3; vụ hè thu xuống giống khoảng tháng 4 – tháng 5, gặt tháng 7 – tháng 8; vụ thu đông xuống giống khoảng tháng 7 – tháng 8, gặt tháng 10 – tháng 11 dương lịch. Tên vụ ghi mùa xuống giống và mùa thu hoạch. Đông xuân thường cho năng suất cao nhất vì rơi vào mùa khô nắng, hè thu gặt trong mưa, thu đông chồng lên mùa lũ nên cần đê bao.
Lịch ba vụ là chuyện của khoảng nửa thế kỷ gần đây. Trước đó, phần lớn ruộng Nam Bộ chỉ làm một vụ lúa mùa dài ngày, cấy theo nước mưa và gặt vào cuối năm. Hiểu con đường từ một vụ lên ba vụ giúp đọc được nhiều câu chuyện của miền Tây: vì sao Tết là mùa gặt, vì sao ruộng có bờ bao, vì sao nay lại bàn chuyện giảm vụ.
Trước khi có ba vụ: lúa mùa nương theo nước
Khi người Việt, người Khmer, người Hoa khai phá đồng bằng sông Cửu Long qua các thế kỷ 17 – 19, cây lúa chính là lúa mùa: giống cao cây, dài ngày, gieo khi mưa đầu mùa đến khoảng tháng 5, tháng 6 dương lịch, cấy giữa mùa mưa và gặt vào tháng 12, tháng 1. Giống lúa phải cao để vượt nước, phải dài ngày vì chỉ trổ bông khi ngày ngắn lại cuối năm, đúng lúc nước đã rút.
Nhiều nơi có tập quán cấy hai lần: gieo mạ, nhổ cấy tạm vào một khoảnh ruộng nhỏ cho cây mập lên, rồi mới nhổ lần nữa cấy ra ruộng lớn khi nước đã đủ. Cách làm tốn công nhưng giúp cây đủ cao, đủ khoẻ để không bị nước ngập khi ra ruộng chính. Ở vùng ngập sâu như Tứ giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười, người ta còn trồng lúa nổi, loại lúa vươn thân theo nước lũ, gặt bằng xuồng.
Một vụ lúa mùa mỗi năm nghĩa là nửa năm còn lại ruộng nghỉ, mùa khô đất nứt, mùa lũ nước tràn đồng. Nhà nông sống bằng nhiều nghề khác trong khoảng ấy: bắt cá mùa nước nổi, làm vườn, đi ghe buôn. Nếp sống miền Tây với cá, với sông, với những mùa rảnh dài có gốc từ chính lịch một vụ này.
Từ một vụ lên hai vụ, rồi ba vụ
Khoảng cuối những năm 1960, các giống lúa thấp cây, ngắn ngày, không phụ thuộc độ dài ngày bắt đầu được đưa vào miền Nam; giống đầu tiên được dân gian quen gọi là lúa "Thần Nông". Giống mới có thể trồng bất cứ mùa nào miễn có nước, nên mở ra khả năng làm hai vụ trong năm: một vụ mùa khô có tưới, một vụ đầu mùa mưa.
Đi cùng giống là thuỷ lợi. Qua các thập niên 1970 – 1990, kênh mương được đào thêm, máy bơm nhỏ phổ biến, nhiều vùng phèn được rửa bằng kênh tiêu. Đông xuân và hè thu trở thành hai vụ chính trên phần lớn diện tích. Lúa mùa truyền thống thu hẹp dần, chỉ còn ở vùng ven biển, vùng mặn và những nơi chưa chủ động nước.
Vụ thứ ba, thu đông, khó hơn vì rơi đúng mùa lũ. Muốn làm được, ruộng phải nằm trong đê bao đủ cao để ngăn lũ tháng 8 – tháng 11. Từ khoảng cuối những năm 1990 và nhất là sau trận lũ lớn năm 2000, các tỉnh đầu nguồn như An Giang, Đồng Tháp xây dựng nhiều đê bao khép kín, và lúa ba vụ mở rộng trong các ô đê này.
Trong vòng khoảng ba mươi năm, lịch nhà nông ở nhiều vùng miền Tây đi từ một vụ dài nương theo nước sang ba vụ ngắn nối tiếp gần như không nghỉ. Đó là một trong những thay đổi lớn nhất của nông lịch Việt Nam thế kỷ 20.
Ba vụ lúa Nam Bộ đặt cạnh nhau
Khung thời gian dưới đây là phổ biến ở vùng ngọt của đồng bằng sông Cửu Long; mỗi tỉnh, mỗi năm có lịch xuống giống cụ thể khác nhau.
| Vụ | Xuống giống khoảng | Thu hoạch khoảng | Đặc điểm thời tiết | Nỗi lo chính |
|---|---|---|---|---|
| Đông xuân | Tháng 11 – tháng 12 | Tháng 2 – tháng 3 | Mùa khô, nắng nhiều, đêm mát | Thiếu nước ngọt, mặn ở vùng ven biển cuối vụ |
| Hè thu | Tháng 4 – tháng 5 | Tháng 7 – tháng 8 | Đầu và giữa mùa mưa, ẩm | Gặt trong mưa, phơi sấy khó, sâu bệnh |
| Thu đông | Tháng 7 – tháng 8 | Tháng 10 – tháng 11 | Giữa mùa mưa, mùa lũ | Lũ tràn nếu đê bao yếu, đất ít nghỉ |
Đông xuân được mùa nhất vì cây lúa nhận nhiều nắng khi trổ và chín, ít sâu bệnh hơn, gặt trong nắng ráo. Đây cũng là vụ trùng Tết, nên ở miền Tây người ta có thói quen gắn tiền Tết với lúa đông xuân. Hè thu thường năng suất thấp hơn và chất lượng hạt dễ giảm nếu gặt gặp mưa liên tục, đó là lý do lò sấy lúa trở thành hình ảnh quen thuộc của mùa này.
Nhịp sống thay đổi theo lịch dày
Khi ruộng làm ba vụ, nhịp sống làng quê miền Tây đổi theo. Những mùa rảnh dài để giăng lưới, đi ghe buôn ngắn lại; người làm ruộng gần như quanh năm có việc, từ làm đất, gieo sạ, chăm, gặt đến phơi sấy. Mùa gặt không còn là một lễ hội lớn mỗi năm một lần mà là ba đợt nối nhau, mỗi đợt có thợ gặt, sau này là máy gặt đập liên hợp đi từ ruộng này sang ruộng khác.
Những nghề phụ theo mùa cũng đổi. Mùa nước nổi trong đê bao không còn cá về nhiều như trước; nghề bắt cá linh, hái bông điên điển thu hẹp ở những ô đê ba vụ. Ngược lại, dịch vụ quanh cây lúa mở ra: thợ sạ, thợ phun, chủ máy gặt, chủ lò sấy, thương lái. Lịch làm ăn của cả một vùng xoay theo lịch ba vụ.
Một ví dụ giả định: một gia đình có vài công ruộng ở ven Long Xuyên thời ông nội chỉ gặt một lần mỗi năm vào tháng chạp, mùa lũ sống bằng con cá; đời cha gặt ba lần, gần như không có tháng nào ruộng để không. Câu chuyện ấy, kể theo nhiều biến thể, là ký ức chung của nhiều gia đình miền Tây.
Cái giá của lịch dày và những điều chỉnh gần đây
Đất ít được nghỉ và ít nhận phù sa. Trong ô đê bao ba vụ, nước lũ không vào đồng, phù sa không bồi lên ruộng. Các nghiên cứu ở đồng bằng sông Cửu Long ghi nhận lo ngại về độ phì của đất và chi phí đầu vào tăng ở các vùng làm ba vụ liên tục nhiều năm.
Dịch hại có cầu nối liên tục. Khi ruộng có lúa gần như quanh năm, sâu bệnh luôn có chỗ sống. Đợt rầy nâu và bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá giữa thập niên 2000 khiến nhiều tỉnh tổ chức xuống giống tập trung theo khung thời gian chung, thường gọi là lịch "né rầy".
Lũ bị đẩy sang nơi khác. Đê bao giữ ruộng trong đê khô ráo nhưng làm nước dâng cao hơn ở vùng ngoài đê và hạ lưu. Đây là đề tài còn được giới thuỷ lợi bàn nhiều.
Một số nơi quay lại hai vụ hoặc mở cửa đê đón lũ. Từ những năm 2010, một số địa phương thử luân phiên: vài năm ba vụ thì một năm để lũ vào đồng, hoặc thay vụ thu đông bằng nuôi cá, trồng cây mùa nước. Lịch mùa vụ vì thế đang được điều chỉnh, không đứng yên.
Vùng ven biển và vùng mặn: lịch mùa khác hẳn
Không phải nơi nào ở Nam Bộ cũng làm ba vụ. Ở dải ven biển các tỉnh Cà Mau (gồm Bạc Liêu cũ), Cần Thơ (gồm Sóc Trăng cũ), An Giang (gồm Kiên Giang cũ), Vĩnh Long (gồm Trà Vinh, Bến Tre cũ), mùa khô nước mặn lấn sâu vào kênh rạch, nên lúa chỉ làm được trong mùa mưa khi nước ngọt đủ rửa mặn.
Ở những vùng này, lịch phổ biến là một vụ lúa mùa mưa xen với nuôi tôm mùa khô, hay còn gọi là mô hình tôm – lúa. Lịch ấy, xét về văn hoá, gần với lịch một vụ của ông bà hơn là lịch ba vụ của vùng đầu nguồn: mùa nào thuận cho cây nào, con nào thì làm cây đó, con đó.
Ở vùng trũng phèn giữa Đồng Tháp Mười, người xưa lại có một nhịp khác: chờ mưa đầu mùa rửa bớt phèn trên mặt ruộng rồi mới gieo, và tránh xới đất sâu để không làm lớp phèn bên dưới trồi lên. Kinh nghiệm "mưa trước, gieo sau" ấy là một kiểu lịch dựa vào đất, không dựa vào ngày, và đến nay vẫn được người làm ruộng vùng phèn nhắc lại khi kể chuyện khai phá.
Sự khác biệt này nhắc rằng "lịch mùa Nam Bộ" là số nhiều. Vùng phù sa ngọt đầu nguồn, vùng trũng phèn, vùng ven biển nhiễm mặn mỗi nơi một nhịp, và chính sự đa dạng ấy là di sản cần ghi lại.
Lịch lễ của người Khmer Nam Bộ và nhịp lúa mùa
Người Khmer Nam Bộ, sống lâu đời ở vùng Sóc Trăng cũ, Trà Vinh cũ, An Giang và nhiều nơi khác, giữ một hệ thống lễ hội gắn chặt với lịch lúa mùa truyền thống. Đọc lịch lễ của người Khmer là một cách hiểu nhịp mùa xưa của đồng bằng, khi ruộng còn làm một vụ theo nước mưa.
Tết Chôl Chnăm Thmây diễn ra khoảng giữa tháng 4 dương lịch, cuối mùa khô. Lúc ấy lúa mùa năm trước đã gặt xong, thóc đã vào bồ, ruộng đang nghỉ chờ mưa. Thời điểm này giống tháng giêng ăn chơi của người Kinh miền Bắc: một khoảng thảnh thơi giữa hai mùa làm, đủ để đoàn tụ, sửa sang nhà cửa, chùa chiền.
Lễ Sene Đôn ta, lễ tưởng nhớ ông bà tổ tiên, diễn ra vào khoảng tháng 9 – tháng 10 dương lịch, giữa mùa mưa, khi lúa mùa đang lớn và việc đồng tạm lắng. Lễ Ok Om Bok vào khoảng rằm tháng 10 theo lịch Khmer, thường rơi vào tháng 11 dương lịch, khi mùa mưa sắp dứt, lúa mùa đang làm đòng, chín. Lễ cúng trăng trong Ok Om Bok gắn với lòng biết ơn mặt trăng đã điều hoà nước và mùa màng trong năm, đi kèm với hội đua ghe ngo trên sông, rộn ràng nhất ở Sóc Trăng cũ.
Khi lịch ba vụ phổ biến, các lễ này vẫn giữ nguyên ngày, nhưng quan hệ với ruộng đồng đổi khác: có năm Ok Om Bok rơi giữa lúc gặt thu đông, Chôl Chnăm Thmây trùng lúc xuống giống hè thu. Lễ hội vì vậy trở thành ký ức sống về một nông lịch cũ, giúp con cháu hiểu vì sao ông bà ăn Tết vào tháng 4.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao vụ đông xuân thường được mùa hơn vụ hè thu?
Vụ đông xuân trổ và chín trong mùa khô, nắng nhiều, độ ẩm thấp, ban đêm mát, nên cây quang hợp tốt, hạt chắc, ít bệnh. Vụ hè thu chín trong mùa mưa, trời âm u, độ ẩm cao, sâu bệnh nhiều và gặt gặp mưa làm hạt dễ giảm chất lượng.
Lúa mùa ở miền Tây ngày nay còn không?
Còn ở một số vùng, chủ yếu ven biển và vùng nhiễm mặn, nơi chỉ làm lúa được trong mùa mưa. Nhiều giống lúa mùa địa phương cũng được giữ lại vì gạo ngon hoặc vì chịu được điều kiện đặc biệt. Diện tích nhỏ hơn rất nhiều so với trước những năm 1970.
Vụ thu đông và vụ mùa có giống nhau không?
Không. Vụ mùa truyền thống là một vụ dài ngày gieo đầu mùa mưa, gặt cuối năm. Vụ thu đông là vụ ngắn ngày thứ ba chen giữa hè thu và đông xuân, xuống giống tháng 7 – tháng 8 và cần đê bao để tránh lũ.
Lịch xuống giống "né rầy" là gì?
Là khung thời gian chung mà ngành nông nghiệp địa phương khuyến cáo để cả vùng xuống giống gần như cùng lúc, tránh thời điểm rầy di trú rộ và cắt cầu nối của dịch hại. Cách làm này phổ biến sau các đợt dịch rầy giữa thập niên 2000. Lịch cụ thể từng năm do địa phương công bố.
Tại sao Tết ở miền Tây gắn với mùa gặt?
Vì vụ đông xuân thu hoạch khoảng tháng 2 – tháng 3 dương lịch, trùng hoặc sát Tết Nguyên đán. Có năm nhà nông gặt trước Tết để có tiền sắm sửa, có năm gặt ngay sau Tết. Nhịp này khiến Tết miền Tây thường gắn với không khí mùa màng.