PhuNong.comPhú Nông
Con trâu và vật nuôi trong đời nhà nông

Con trâu là đầu cơ nghiệp: vì sao trâu là tài sản lớn nhất của nhà nông Việt xưa

Câu "con trâu là đầu cơ nghiệp" nghĩa là gì, vì sao trâu đứng đầu tài sản nhà nông xưa, một năm làm việc của trâu và câu tục ngữ ấy nay còn đúng không.

A farmer seen from behind guiding a grey water buffalo pulling a wooden plough through a flooded paddy, morning mist, low wide angle

"Con trâu là đầu cơ nghiệp" nghĩa là với nhà nông trồng lúa nước ngày xưa, con trâu là tài sản đứng đầu, là cái gốc để gây dựng mọi thứ khác: có trâu thì cày được ruộng, cày được ruộng thì có thóc, có thóc mới tính đến nhà cửa, cưới xin. Một nhà có ruộng mà không có trâu phải đi thuê, đi mượn, đổi công, lúc nào cũng chậm hơn người ta một nhịp mùa vụ.

Trâu quý không chỉ vì sức kéo. Nó là của để dành biết đẻ ra của, là thứ có thể bán khi nhà gặp hoạn nạn, là bạn làm ăn gắn với cả nhà trong mười mấy năm. Phần dưới giải thích vì sao trâu chứ không phải con vật khác giữ vị trí ấy, một năm làm việc của con trâu trên đồng Bắc Bộ, cách người xưa kén trâu, và câu tục ngữ này nay đọc lại thế nào khi máy cày đã thay phần lớn sức trâu.

"Đầu cơ nghiệp" nghĩa là gì

"Cơ nghiệp" là cơ ngơi, sản nghiệp của một gia đình: ruộng, nhà, của cải, nghề làm ăn. "Đầu" ở đây vừa là đứng đầu về giá trị, vừa là khởi đầu. Câu tục ngữ không nói trâu đắt hơn ruộng, vì nhiều vùng một mẫu ruộng tốt vẫn giá trị hơn một con trâu. Nó nói rằng trong những thứ một gia đình nông dân bình thường tự tạo ra được, con trâu là bước đầu tiên và quan trọng nhất.

Lý do nằm ở thứ tự công việc. Ruộng lúa nước ở đồng bằng Bắc Bộ đất thịt nặng, khi ngập nước thành bùn dẻo, khi khô nứt nẻ cứng như gạch. Một người cuốc tay chỉ làm được một khoảnh nhỏ mỗi ngày, trong khi thời vụ cấy chỉ kéo dài vài tuần. Không có sức kéo thì đất không kịp làm, mạ già trên ruộng mạ, lúa cấy muộn gặp rét hoặc gặp lũ. Con trâu biến diện tích ruộng thành diện tích làm được trong đúng thời vụ.

Câu này thường đi cùng một câu khác: "Tậu trâu, lấy vợ, làm nhà, trong ba việc ấy thật là khó thay." Thứ tự trong câu không phải ngẫu nhiên. Người xưa khuyên có trâu trước, rồi mới lấy vợ, rồi mới làm nhà, vì trâu là cái máy tạo ra thóc lúa nuôi hai việc sau. Nhiều dị bản đảo thứ tự, nhưng việc tậu trâu luôn có mặt.

Một năm làm việc của con trâu trên đồng Bắc Bộ

Lịch làm việc dưới đây là khung chung của vùng hai vụ lúa ở đồng bằng sông Hồng thời trước cơ giới hoá. Mỗi làng lệch vài tuần tuỳ đất cao, đất trũng và lúc nước về.

Thời gian (âm lịch)Việc trâu làmGhi chú
Tháng 10–11Cày đất sau gặt mùa, chuẩn bị vụ chiêmĐất còn ẩm, cày nặng; trâu cần ăn no trước mùa rét
Tháng 11–12Bừa, làm đất cấy chiêmRét đậm là lúc trâu dễ yếu, nhiều nhà đắp chuồng, đốt rơm sưởi
Tháng giêng – tháng haiNghỉ ít, kéo xe, chở phânThời gian trâu hồi sức sau mùa làm đất
Tháng 4–5Kéo lúa chiêm về sân, cày ải phơi đấtNắng gắt, phải cho trâu đằm nước giữa buổi
Tháng 5–6Cày bừa cấy vụ mùaĐợt làm đất thứ hai trong năm, gấp nhất
Tháng 9–10Kéo lúa mùa, chở rơmCuối năm lại vòng sang vụ chiêm

Ngoài ruộng, trâu còn kéo che ép mía ở các vùng làm đường, kéo gỗ ở vùng đồi, quay cối ở một số nơi. Một con trâu khoẻ làm việc được mười mấy năm, đủ để đứa trẻ chăn nó từ lúc bảy tám tuổi lớn lên thành người cày chính.

Vì sao là trâu chứ không phải bò hay ngựa

Trâu sinh ra cho bùn. Trâu nội Việt Nam thuộc nhóm trâu đầm lầy. Móng trâu to, xoè rộng, khớp chân linh hoạt nên trâu bước trong bùn sâu ngang bụng mà không lún như bò. Trên ruộng nước Bắc Bộ, đó là ưu thế quyết định.

Sức kéo lớn, chịu nặng bền. Trâu đực trưởng thành nặng hơn bò cùng vùng, kéo được cày sâu hơn trên đất thịt. Bò nhanh hơn, nhẹ hơn, hợp đất cát pha; trâu chậm mà chắc, hợp đất nặng và ruộng lầy.

Ăn được thứ người không ăn. Trâu sống bằng cỏ bờ, rơm rạ, thân ngô, lá chuối, những thứ nhà nông có sẵn. Nuôi trâu gần như không tốn thóc gạo, khác hẳn nuôi ngựa phải có cám, có thóc.

Nhược điểm: sợ nóng và sợ rét. Da trâu đen, lông thưa, tuyến mồ hôi ít, nên trâu thải nhiệt kém và phải đằm nước hay đằm bùn khi nắng. Mùa đông rét đậm, trâu gầy dễ chết rét. Kinh nghiệm cho trâu đằm vũng giữa trưa và che chắn chuồng mùa đông đều xuất phát từ đặc điểm sinh học này.

Trâu cái vừa làm vừa đẻ. Trâu cái vẫn cày được, mỗi lứa thường một nghé, thời gian mang thai khoảng mười tháng rưỡi đến mười một tháng. Nhà có trâu cái thì cứ vài năm có thêm một con nghé để bán hoặc nuôi lớn, tức là tài sản tự sinh lời.

Trâu là của để dành của nhà nông

Trước khi có ngân hàng ở làng, nhà nông giữ của bằng thóc, bằng vàng ít ỏi và bằng gia súc. Thóc để lâu bị mọt, vàng thì ít người có, còn con trâu vừa giữ giá vừa làm ra việc. Khi nhà có việc lớn như cưới vợ cho con, làm nhà, chữa bệnh, bán trâu là cách gom được một khoản tiền lớn một lần. Vì thế người già hay nói "bán trâu" như nói về một quyết định hệ trọng của cả nhà.

Câu "Ruộng sâu trâu nái, không bằng con gái đầu lòng" cho thấy trâu nái được đặt ngang hàng với ruộng sâu, thứ ruộng tốt giữ nước, cấy được chắc ăn. Câu tục ngữ mượn hai tài sản quý nhất của nhà nông để nói con gái đầu lòng còn quý hơn, vì con gái lớn đỡ đần mẹ việc nhà, trông em, ra đồng.

Nhiều nhà nghèo không đủ sức mua trọn một con trâu. Từ đó có các cách chia sức kéo trong làng: hai ba nhà góp tiền mua chung một con, chia nhau ngày cày; nhà không có trâu đổi công cấy, gặt cho nhà có trâu; nhà có trâu cày thuê cho người khác lấy thóc. Ví dụ giả định: một nhà có trâu cày xong ruộng mình rồi cày tiếp cho hai nhà hàng xóm, đổi lại hai nhà ấy cấy và gặt giúp vào lúc nhà có trâu thiếu người.

Gửi trâu nuôi rẽ cũng là một tập quán ở nhiều vùng: người có vốn giao nghé cho nhà khác nuôi, khi trâu đẻ thì chia nghé theo thoả thuận. Cách làm ấy cho thấy con trâu không chỉ là sức kéo mà là một thứ vốn lưu chuyển trong làng.

Kén trâu theo kinh nghiệm dân gian

Mua trâu là việc hệ trọng nên mỗi vùng có những người được tiếng biết xem trâu, đi cùng người mua ra chợ. Các tiêu chí dưới đây là kinh nghiệm truyền miệng phổ biến, mô tả như tư liệu về cách người xưa quan sát con vật, không phải chuẩn giống hiện đại.

  • Ngực nở, mông nở, lưng thẳng: trâu khung to, cân đối thì kéo khoẻ và bền. Đây là điều chăn nuôi hiện đại cũng xác nhận khi đánh giá thể vóc gia súc cày kéo.
  • Chân thẳng, móng khít: móng hở dễ nứt, dễ sưng khi lội bùn lâu. Người xem trâu hay bắt trâu đi vài vòng trên đất để nhìn dáng bước.
  • Mắt sáng, lông mượt, ăn khoẻ: những dấu hiệu sức khoẻ chung, ngày nay thú y vẫn dùng để nhìn nhanh một con vật.
  • Tính nết hiền, đã thuần cày: trâu "biết cày" đáng giá hơn trâu chưa dạy, vì dạy một con trâu non quen ách, quen tiếng lệnh mất cả mùa.
  • Tuổi: nhìn răng để đoán tuổi trâu, như người ta vẫn làm với bò, ngựa. Trâu quá già kéo yếu, trâu quá non chưa đủ sức.

Bên cạnh những kinh nghiệm có cơ sở ấy, dân gian còn có các quan niệm về xoáy lông, màu sừng mang ý may rủi. Chúng thuộc về tín ngưỡng dân gian của từng vùng, đáng ghi lại như tư liệu văn hoá nhưng không có căn cứ về sức kéo hay sức khoẻ của con vật.

Con trâu trong văn hoá Việt

Vì gắn với đời người nông dân từ bé đến già, trâu đi vào văn hoá Việt ở nhiều tầng. Trong ca dao, câu "Trâu ơi ta bảo trâu này, trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta" coi trâu như người bạn cùng làm, cùng hưởng: "bao giờ cây lúa còn bông, thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn".

Trong tranh dân gian Đông Hồ, cảnh trẻ chăn trâu thổi sáo là một đề tài quen, ghi lại khung cảnh bình yên của làng quê. Trong truyền thuyết, Đinh Bộ Lĩnh thuở nhỏ chăn trâu, lấy bông lau làm cờ tập trận cùng lũ trẻ, câu chuyện mà nhiều thế hệ học trò thuộc lòng.

Trâu còn có mặt trong lễ hội: nhiều nơi có tục cho trâu nghỉ ngày Tết, có hội chọi trâu, có lễ mừng lúa mới của đồng bào Tây Nguyên gắn với con trâu. Những lễ hội này có bài riêng ở mục lễ hội nông nghiệp; ở đây chỉ cần thấy rằng con trâu bước từ ruộng vào cả đời sống tinh thần của làng.

Ở thời hiện đại, hình ảnh trâu vẫn được chọn để nói về người Việt. Linh vật Đại hội Thể thao Đông Nam Á lần thứ 22 tổ chức ở Việt Nam năm 2003 là chú trâu vàng, một lựa chọn được giải thích bằng chính sự chăm chỉ, hiền lành gắn với con trâu trong mắt người Việt.

Hôm nay câu tục ngữ còn đúng không

Ở đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long, máy cày, máy làm đất, máy gặt đã thay gần hết sức trâu trong vài chục năm qua. Với một nhà trồng lúa ở đồng bằng hôm nay, "đầu cơ nghiệp" có lẽ là cái máy làm đất hay khoản vốn mua giống, không còn là con trâu.

Tuy vậy, ở trung du và miền núi phía Bắc, nơi ruộng bậc thang hẹp và dốc, máy lớn khó vào, trâu vẫn kéo cày ở nhiều bản. Đàn trâu cả nước còn khoảng hơn hai triệu con theo số liệu thống kê đầu thập niên 2020, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía Bắc như Tuyên Quang, Lào Cai, Sơn La, Điện Biên. Ở những nơi ấy, con trâu vẫn là tài sản lớn của nhiều gia đình, và câu tục ngữ vẫn đúng gần như nguyên nghĩa.

Ở đồng bằng, câu tục ngữ chuyển sang nghĩa bóng: cái gốc làm ăn phải có trước, những thứ khác mới đến sau. Người làm vườn, làm nghề phụ, mở tiệm vẫn có thể tự hỏi "con trâu" của mình là gì, thứ công cụ hay vốn liếng mà thiếu nó thì mọi việc khác đều chậm một nhịp.

Đọc lại câu tục ngữ cũng là cách hiểu vì sao ông bà quý con trâu đến thế, gọi nó bằng giọng thân như gọi người nhà, và vì sao nhiều người già ở quê vẫn buồn khi con trâu cuối cùng trong xóm bị bán đi.

Câu hỏi thường gặp

Câu "con trâu là đầu cơ nghiệp" có từ bao giờ?

Không có văn bản nào ghi được thời điểm ra đời của câu này. Nó thuộc kho tục ngữ truyền miệng của nông dân trồng lúa nước, được các nhà sưu tầm ghi lại trong các tuyển tập tục ngữ ca dao từ thế kỷ 20. Điều chắc chắn là nó phản ánh một xã hội nông nghiệp dùng sức kéo gia súc rất lâu đời.

Ngày xưa một con trâu đáng giá bao nhiêu ruộng?

Không có tỷ lệ chung vì giá trâu và giá ruộng thay đổi theo vùng, theo năm được mùa hay mất mùa. Các hồi ký và tài liệu nông thôn thường chỉ cho thấy một con trâu khoẻ là khoản tài sản mà nhiều gia đình phải dành dụm nhiều năm mới mua nổi, nên việc mua chung hay nuôi rẽ rất phổ biến.

Trâu và bò, con nào được coi là đầu cơ nghiệp?

Câu tục ngữ gọi đích danh con trâu vì nó ra đời ở vùng lúa nước Bắc Bộ, nơi trâu là sức kéo chính. Ở miền Trung và một phần Nam Bộ, bò kéo cày, kéo xe nhiều hơn và cũng là tài sản lớn của nhà nông, chỉ là không có câu tục ngữ nổi tiếng bằng.

Vì sao ông bà ngày xưa thương trâu như người nhà?

Con trâu sống với gia đình mười mấy năm, được chăn từ khi còn là nghé, làm việc cùng người trong những ngày nặng nhọc nhất. Nhà nông nhìn thấy công của nó trong từng bát cơm. Nhiều nhà kiêng đánh trâu nặng tay, cho trâu nghỉ ngày Tết, xem đó như lòng biết ơn với bạn làm ăn.

Có thể dùng câu tục ngữ này khi dạy học sinh như thế nào?

Có thể bắt đầu bằng câu hỏi: nếu nhà em làm ruộng mà không có trâu hay máy thì sẽ làm đất bằng gì, mất bao lâu. Từ đó học sinh tự thấy vì sao sức kéo quyết định cả mùa vụ. Sau đó so sánh với "con trâu" của nghề ngày nay để hiểu nghĩa bóng của câu.

Còn nơi nào ở Việt Nam dùng trâu cày ruộng không?

Còn, chủ yếu ở các bản vùng cao phía Bắc có ruộng bậc thang, nơi ruộng hẹp, dốc, máy lớn khó vào. Ở đồng bằng, trâu còn lại phần nhiều được nuôi lấy thịt hoặc giữ vài con ở những nơi làm du lịch nông thôn, rất ít khi còn kéo cày theo mùa vụ.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.