Tháng Chạp, tháng cuối năm âm lịch, ở làng quê Bắc Bộ xưa là tháng của hai nhịp chồng lên nhau: ngoài đồng cấy lúa chiêm trong gió bấc, rét đậm; trong làng lo Tết với tát ao bắt cá, dọn nhà, sửa sang mồ mả, đụng lợn, giã giò, gói bánh chưng và trả nợ cuối năm. Người già hay nói tháng Chạp là tháng "chạy", vì việc gì cũng phải xong trước ba mươi Tết.
Bài này đi qua những việc của tháng Chạp ở làng xưa, vì sao mỗi việc rơi vào đúng tháng này, cách các vùng khác chuẩn bị cuối năm, và những tập quán còn lại đến hôm nay.
Tháng Chạp trong lịch nhà nông: vừa cấy vừa lo Tết
Lúa chiêm ở đồng bằng Bắc Bộ xưa được cấy trong những tháng rét cuối năm, nhiều nơi rơi đúng vào tháng Chạp. Người cấy lội ruộng trong gió bấc, nước buốt, tay chân nứt nẻ. Một dị bản ca dao mở đầu bằng câu "Tháng Chạp là tiết trồng khoai", cho thấy tháng này còn là lúc trồng khoai, trồng màu trên những chân ruộng cao, bãi bồi.
Rét đậm là mối lo lớn nhất. Mạ non gặp rét có thể chết hàng loạt, cấy xong gặp rét thì lúa chậm bén rễ. Người xưa che mạ bằng rơm, giữ nước trong ruộng để giữ ấm cho gốc lúa, chờ những ngày hửng nắng mới cấy. Ngày nay ngành nông nghiệp thường khuyến cáo lùi lịch gieo cấy để né rét, và người làm ruộng theo lịch thời vụ của từng địa phương.
Song song với việc đồng là việc nhà. Từ giữa tháng Chạp, nhà nào cũng bắt đầu tính chuyện Tết: còn bao nhiêu thóc, nuôi lợn đủ cân chưa, lá dong, gạo nếp đã có chưa, nợ ai cần trả, ai cần biếu. Hai dòng việc ấy chạy song song nên tháng Chạp là một trong những tháng mệt nhất năm, dù không bận bằng mùa gặt.
Trong nhà, việc thường được chia đôi: người khoẻ ra đồng cấy cho kịp trước Tết, người ở nhà lo dọn dẹp, chăm lợn gà, chuẩn bị lá dong, gạo nếp. Nhà nào cấy xong chiêm trước hai mươi tháng Chạp thì được coi là nhà "đi trước", có thể yên tâm sắm Tết.
Tát ao cuối năm: cả xóm cùng bắt cá
Tát ao là việc tiêu biểu của tháng Chạp ở đồng bằng Bắc Bộ. Ao nhà nuôi cá cả năm, đến cuối năm tát cạn để bắt cá ăn Tết, bán bớt, và vét bùn. Tát ao cần nhiều người: người tát nước bằng gàu sòng, gàu dai, người đắp bờ ngăn, người lội bùn bắt cá. Hàng xóm, họ hàng đến giúp và được chia cá mang về.
Cá lớn như trắm, chép, mè để dành cho Tết, kho riềng trong nồi đất, cất được nhiều ngày. Cá nhỏ chia cho người giúp, cho trẻ con. Trẻ con đặc biệt thích tát ao vì được lội bùn, bắt cá rô, cá trê lẫn trong bùn. Buổi tát ao thường kết thúc bằng bữa cơm chung có cá vừa bắt. Ao của đình, ao chung của làng có nơi tát theo lệ riêng, cá chia theo suất đinh hoặc bán lấy tiền làm việc làng, và người được giao trông ao phải báo cáo trước dân làng.
Bùn ao vét lên được dùng bón ruộng, bón vườn, đắp bờ. Ao được phơi đáy, rắc vôi, rồi lấy nước mới, thả cá giống cho năm sau. Vòng khép kín ấy, ao nuôi cá, bùn ao nuôi ruộng, ruộng nuôi người, là một ví dụ của cách làng xưa tận dụng mọi nguồn lực, sau này được gọi tên trong các mô hình vườn, ao, chuồng.
Dọn nhà, dọn vườn và sửa sang mồ mả
Quét dọn và sửa nhà. Cuối năm, nhà được quét vôi lại, mái rạ dột được vá, sân được quét sạch, đồ đạc được lau chùi. Bàn thờ gia tiên được dọn dẹp cẩn thận, đồ đồng được đánh bóng.
Dọn vườn, rào lại ngõ. Cây cối trong vườn được tỉa, rào tre được buộc lại, ngõ được đắp phẳng. Nhiều làng có lệ cả xóm cùng phát quang đường làng trước Tết.
Sửa sang mồ mả. Con cháu ra đồng làm cỏ, đắp lại mộ ông bà trước Tết. Ở miền Trung, tục này gọi là chạp mả, nhiều dòng họ tổ chức theo ngày riêng, là dịp con cháu tụ họp. Đây là nếp gia đình, không phải nghi lễ cầu xin.
Sửa nông cụ cho năm mới. Cày, bừa, cuốc, liềm được đem đi rèn lại, cán được thay. Thợ rèn trong làng có việc nhiều vào tháng Chạp. Nông cụ sạch sẽ, đủ cả là cách người làm ruộng chuẩn bị cho năm mới.
Đụng lợn, giã giò, gói bánh: làm đồ Tết bằng sức chung
Ở nhiều làng Bắc Bộ, một con lợn quá lớn với một nhà nên vài nhà góp chung, gọi là đụng lợn hay đánh đụng. Sáng sớm những ngày cuối tháng Chạp, các nhà cùng mổ lợn, chia thịt theo phần đã góp. Mỗi nhà mang về một phần thịt nạc giã giò, thịt mỡ làm thịt đông, lòng ăn ngay, xương nấu canh. Đụng lợn là cách giúp nhà ít tiền vẫn có thịt ăn Tết.
Giã giò là việc của đàn ông khoẻ tay: thịt nạc còn ấm được giã bằng chày gỗ trong cối đá cho đến khi dẻo mịn, rồi gói lá chuối, luộc chín. Tiếng chày giã giò vang khắp xóm những ngày giáp Tết là âm thanh quen của làng xưa.
Gói bánh chưng thường vào khoảng hai mươi lăm đến hai mươi tám tháng Chạp. Lá dong rửa sạch, gạo nếp ngâm, đậu xanh đồ chín, thịt ba chỉ ướp muối tiêu. Cả nhà ngồi gói, người lớn gói, trẻ con lau lá, đếm bánh. Nồi bánh luộc suốt đêm, người lớn thay nhau canh lửa, trẻ con ngồi bên bếp nghe chuyện. Đây là đêm được nhắc đến nhiều nhất trong ký ức Tết của người miền Bắc.
Dưa hành, mứt gừng, kẹo lạc: đồ Tết làm từ chính nông sản nhà
Bên cạnh bánh chưng và giò, gian bếp tháng Chạp ở làng xưa còn bận với những món làm từ thứ nhà trồng được. Hành củ trồng trên ruộng màu được bóc vỏ, phơi héo, muối chua trong vại, để ăn kèm thịt mỡ cho đỡ ngán; câu "thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ" quen thuộc chính là bức tranh mâm Tết Bắc Bộ.
Gừng, bí, khoai lang, cà rốt về sau được làm mứt; lạc, vừng rang lên trộn mật mía làm kẹo lạc, kẹo vừng; gạo nếp rang nổ làm bỏng, nặn thành bánh. Ở nhiều vùng, bánh khảo, bánh in, bánh gai cũng được làm tại nhà hoặc đặt người trong làng làm. Mật mía, đường phên là nguyên liệu quan trọng, có làng chuyên ép mía nấu mật vào đúng mùa cuối năm.
Những món này có điểm chung: làm từ nông sản của chính vụ vừa thu, chế biến để giữ được lâu qua những ngày Tết khi chợ nghỉ. Đó là sự tiếp nối của nguyên tắc tích trữ đã có trong cả năm của nhà nông: mùa dư thì cất, mùa thiếu thì dùng. Khi người già nhớ về Tết, họ thường nhớ mùi mật mía sôi, mùi gừng thái sợi, mùi lạc rang trong bếp tháng Chạp hơn là bất kỳ món mua sẵn nào.
Tháng cuối năm ở các vùng: mỗi nơi chuẩn bị Tết theo mùa của mình
Tháng Chạp ở mỗi vùng gắn với một mùa vụ khác nhau, nên việc chuẩn bị Tết cũng khác. Bảng dưới tóm lược ở mức chung.
| Vùng | Việc đồng cuối năm | Đồ Tết đặc trưng | Việc chung của làng |
|---|---|---|---|
| Đồng bằng Bắc Bộ | Cấy chiêm trong rét, trồng khoai | Bánh chưng, giò, thịt đông, dưa hành | Tát ao, đụng lợn, dọn đường làng |
| Bắc Trung Bộ | Cấy vụ đông xuân, chống rét | Bánh chưng, bánh tét, nem chua, cu đơ | Dọn mộ, sửa nhà sau mùa lũ |
| Nam Trung Bộ | Chuẩn bị vụ đông xuân sau lũ | Bánh tét, dưa món, bánh in | Chạp mả theo họ, dọn nhà |
| Nam Bộ | Thu hoạch hoặc chăm lúa đông xuân, mùa khô | Bánh tét, dưa món, củ kiệu, thịt kho hột vịt | Tát đìa bắt cá, sơn sửa nhà |
| Vùng cao phía Bắc | Nông nhàn sau thu hoạch, chuẩn bị nương | Bánh chưng gù, bánh dày, thịt treo gác bếp | Chuẩn bị lễ hội đầu năm |
Điểm chung của mọi vùng là tháng cuối năm gắn với thu dọn và tích trữ. Thóc, cá, thịt, đồ muối được dồn cho những ngày Tết, khi làng nghỉ việc đồng và dành thời gian cho gia đình, họ hàng.
Trả nợ cuối năm và những món quà biếu
Theo nếp cũ, nợ trong năm nên trả trước Tết, để bước sang năm mới không còn vướng. Người vay thóc lúc giáp hạt đã trả sau mùa gặt, nhưng các khoản nợ nhỏ, nợ tiền chợ, nợ công thì thường được thanh toán trong tháng Chạp. Người cho vay cũng ngại đòi nợ sau Tết vì sợ mất lòng, nên tháng Chạp là lúc hai bên cùng tính sổ. Nhà chưa trả được thì sang tận nơi xin khất, hẹn một mốc cụ thể như sau vụ chiêm, coi đó là phép lịch sự tối thiểu giữa người cùng làng.
Tháng Chạp còn là mùa biếu Tết. Con cháu biếu ông bà, cha mẹ; học trò biếu thầy; người được giúp đỡ trong năm biếu người đã giúp. Quà biếu làng xưa là những thứ nhà làm ra: cặp bánh chưng, cân giò, con gà, chai mật ong, gói chè. Món quà nhỏ nhưng ghi nhận một mối quan hệ, nhắc rằng làng là một mạng lưới qua lại.
Ngày hai mươi ba tháng Chạp, nhiều gia đình làm lễ tiễn ông Công ông Táo, một tục cuối năm được giữ như nếp nhà. Từ ngày ấy, không khí Tết bắt đầu rõ rệt: chợ đông hơn, đường làng sạch hơn, người đi làm xa lục tục trở về.
Tháng Chạp hôm nay: những việc còn và những việc đã đổi
Nhiều việc tháng Chạp đã thay đổi. Ao làng ít nhà còn nuôi cá để tát; thịt, giò mua ở chợ thay cho đụng lợn, giã tay; bánh chưng nhiều nhà đặt mua. Ruộng chiêm ở nhiều nơi cấy sau Tết theo khuyến cáo né rét, nên tháng Chạp không còn là tháng cấy như xưa.
Nhưng nhiều thứ vẫn còn. Dọn nhà, dọn mộ cuối năm vẫn là nếp của hầu hết gia đình. Đêm gói bánh, luộc bánh vẫn được nhiều nhà giữ như một dịp sum họp, dù chỉ gói vài chiếc. Người đi làm xa vẫn về quê trong tháng Chạp, và với nhiều làng, đó là lúc làng đông người nhất trong năm.
Với người muốn giữ di sản nghề nông, tháng Chạp là dịp tốt để ghi lại ký ức: hỏi ông bà ngày xưa tát ao thế nào, đụng lợn mấy nhà, gói bao nhiêu bánh, ai canh nồi bánh. Những câu chuyện ấy, kèm vài tấm ảnh, là tư liệu quý cho con cháu, và là cách giữ cái Tết làng quê ngay cả khi nhịp sống đã khác.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao tháng cuối năm âm lịch gọi là tháng Chạp?
Có nhiều cách giải thích về nguồn gốc tên gọi, một cách hay được nhắc là liên hệ với chữ "lạp" trong Hán Việt, chỉ lễ tế cuối năm. Cách giải thích này phổ biến nhưng nên coi là một giả thuyết về từ nguyên. Trong đời sống, tháng Chạp đơn giản là tháng Mười Hai âm lịch.
Đụng lợn là gì?
Đụng lợn, hay đánh đụng, là tập quán vài gia đình góp tiền hoặc góp phần để chung nhau một con lợn, mổ vào dịp cuối năm rồi chia thịt theo phần đã góp. Cách này giúp các nhà có thịt ăn Tết mà không phải mua cả con, đồng thời là dịp hàng xóm làm việc cùng nhau.
Tát ao cuối năm có ý nghĩa gì ngoài bắt cá?
Ngoài bắt cá ăn Tết, tát ao còn giúp vét bùn để bón ruộng, bón vườn, phơi đáy ao để làm sạch, thả lứa cá mới cho năm sau. Đây cũng là dịp hàng xóm, họ hàng làm cùng nhau và chia cá cho nhau, góp phần giữ quan hệ trong xóm.
Chạp mả là gì?
Chạp mả là tục sửa sang, làm cỏ, đắp lại mộ ông bà tổ tiên vào tháng Chạp, phổ biến ở miền Trung. Nhiều dòng họ tổ chức vào một ngày nhất định, con cháu ở xa về tụ họp. Tục này được giữ như một nếp gia đình và dòng họ.
Ngày nay cấy lúa chiêm còn cấy trong tháng Chạp không?
Ở nhiều nơi ở Bắc Bộ, lịch gieo cấy vụ đông xuân hiện nay được khuyến cáo lùi về sau Tết để tránh rét đậm, rét hại. Lịch cụ thể mỗi năm do ngành nông nghiệp địa phương hướng dẫn tuỳ diễn biến thời tiết, nên người làm ruộng theo khuyến cáo của địa phương mình.
Có nên tự gói bánh chưng ở nhà khi sống ở thành phố?
Nếu có thời gian và chỗ luộc, tự gói vài chiếc là cách hay để trẻ con hiểu Tết xưa. Có thể dùng nồi áp suất hoặc bếp điện để rút ngắn thời gian luộc. Quan trọng là cả nhà cùng làm và nghe ông bà kể lại đêm luộc bánh ở quê ngày trước.