PhuNong.comPhú Nông
Lịch sử khai hoang, mở đất

Kênh xáng miền Tây: máy đào kênh cuối thế kỷ 19 và những vùng lúa mới dọc bờ

Kênh xáng là gì, vì sao cuối thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20 miền Tây đào kênh bằng máy, kênh Xà No mở vùng Hậu Giang cũ ra sao và đời sống dọc bờ kênh mới đã đổi thế nào.

Old rusted dredging machine hull half sunk at the bank of a wide brown canal, coconut palms and rice fields behind, seen from a boat

"Kênh xáng" là cách người miền Tây gọi những con kênh được đào bằng xáng — máy đào chạy hơi nước đặt trên xà lan — từ cuối thế kỷ 19 đến nửa đầu thế kỷ 20. Nhờ máy, kênh được đào nhanh, dài và sâu hơn hẳn đào tay, mở ra những vùng lúa mới ở Hậu Giang cũ, Bạc Liêu, Cà Mau và vùng Rạch Giá. Kênh Xà No, đào khoảng năm 1901–1903, nối sông Hậu ở Cần Thơ với vùng Vị Thanh, là một trong những con kênh xáng được nhắc tới nhiều nhất.

Bài kể kênh xáng như một chương của lịch sử kinh tế nông nghiệp: vì sao đào, đào thế nào, ai đến ở dọc bờ, và cảnh quan làng ven kênh mà ta thấy hôm nay hình thành ra sao.

Xáng là gì và vì sao gọi là kênh xáng

Xáng là chiếc máy đào lòng sông đặt trên thân nổi, dùng hơi nước, có dây gầu múc liên tục hoặc một gầu ngoạm lớn, múc bùn dưới đáy rồi đổ sang bờ. Máy đứng tại chỗ, đào xong một đoạn thì nhích lên, cứ thế kéo dài con kênh qua đồng trũng. Người dân gọi nôm là "xáng múc", và gọi con kênh do máy đào là "kênh xáng" để phân biệt với kênh đào tay.

Đất xáng múc lên đổ thành bờ cao hai bên, gọi là "đất xáng thổi" hay "bờ xáng". Lớp đất này khác hẳn đất ruộng: nó là đất đáy, nhiều sét, có khi lẫn phèn từ tầng sâu, những năm đầu rất khó trồng. Nhưng nó cao, không ngập, nên trở thành nền đất ở cho người đến sau.

Ngày nay, chữ "xáng" còn trong rất nhiều địa danh miền Tây: Kinh Xáng, Xáng Mới, Xáng Cụt, Ngã Ba Xáng, Ngã Tư Xáng… Đọc thấy chữ ấy trong tên một vùng, có thể đoán khá chắc đó là vùng mở ra nhờ một con kênh đào bằng máy.

So với đào tay, sự khác biệt rất lớn. Một đội dân phu đông vẫn chỉ đào được kênh hẹp, nông, và phải nghỉ khi nước lên; còn xáng làm được cả trong mùa nước, đào sâu đủ cho ghe chài lớn chạy quanh năm. Đổi lại, xáng cần than củi, thợ máy, xà lan chở nhiên liệu và một bộ máy quản lý, nên chỉ nhà nước thuộc địa hoặc các công ty lớn mới tổ chức được.

Vì sao cuối thế kỷ 19 lại đào kênh bằng máy

Sau khi Pháp chiếm Nam Kỳ và lập chính quyền thuộc địa, lúa gạo được xem là nguồn thu lớn nhất của vùng: đồng bằng rộng, đất phù sa, chỉ thiếu đường nước để khai thác vùng sâu và chở lúa ra cảng. Đào kênh bằng máy được coi là cách nhanh nhất để biến đồng hoang thành đất trồng lúa chịu thuế và lúa xuất khẩu.

Những con kênh đầu tiên thời kỳ này vẫn đào bằng tay, như kênh Chợ Gạo nối sông Vàm Cỏ với sông Tiền, giúp ghe lúa từ miền Tây đi lên Chợ Lớn ngắn hơn. Từ cuối thế kỷ 19, xáng hơi nước được đưa vào, tốc độ đào tăng hẳn. Trong vài thập niên đầu thế kỷ 20, một mạng lưới kênh dày được đào ở vùng phía tây sông Hậu, nơi trước đó còn là rừng tràm và đồng trũng.

Song song với kênh là việc cấp đất. Đất hai bên kênh mới được bán hoặc cấp lớn cho những người có vốn, gồm cả người Pháp và địa chủ người Việt, người Hoa. Đây là lúc hình thành những điền chủ lớn có hàng nghìn mẫu ở vùng Hậu Giang cũ và Bạc Liêu, cùng một lớp tá điền đông đảo đến từ khắp Nam Bộ và cả miền Trung.

Một số con kênh xáng và kênh đào được nhắc nhiều

Danh sách dưới đây chỉ nêu các tuyến nổi tiếng, kèm thời gian khi tư liệu ghi khá thống nhất. Chiều dài và năm cụ thể nên kiểm lại khi trích dẫn:

  • Kênh Chợ Gạo: đào tay khoảng cuối thập niên 1870, nối sông Vàm Cỏ với sông Tiền, rút ngắn đường ghe từ miền Tây lên Chợ Lớn. Nay nằm ở vùng Tiền Giang cũ, thuộc tỉnh Đồng Tháp.
  • Kênh Xà No: đào bằng xáng khoảng năm 1901–1903, nối sông Hậu ở vùng Cần Thơ với vùng Vị Thanh (Hậu Giang cũ, nay thuộc Cần Thơ), mở ra vùng lúa rộng lớn hai bên bờ.
  • Mạng kênh vùng Ngã Bảy (Phụng Hiệp): nơi nhiều kênh gặp nhau, hình thành chợ nổi và thị tứ, là đầu mối ghe lúa của vùng Hậu Giang cũ.
  • Các rạch, kênh ven biển Tây vùng Rạch Giá – U Minh: được gọi theo số thứ tự từ Rạch Giá trở xuống, sinh ra các địa danh như Thứ Ba, Thứ Bảy, Thứ Mười Một ở vùng An Biên, U Minh Thượng cũ.
  • Các kênh ở Bạc Liêu, Cà Mau: mở đường cho vùng lúa mùa và sau này là vùng tôm – lúa ven biển.

Điểm chung của các tuyến này là chúng không chỉ dẫn nước, mà vẽ lại bản đồ dân cư. Trước kênh, dân ở rải rác ven sông rạch tự nhiên; sau kênh, dân dồn về ở thẳng hàng dọc bờ kênh mới, và chợ mọc ở chỗ hai kênh giao nhau.

Đời sống dọc bờ kênh mới

Người đến ở dọc kênh xáng phần lớn là gia đình nghèo đi tìm đất làm ăn: tá điền thuê ruộng của điền chủ, người làm công nhật theo mùa, và những người tự vào khai một khoảnh nhỏ ở xa hơn. Họ dựng nhà trên bờ xáng, quay mặt ra kênh, ruộng kéo dài phía sau theo từng dải vuông góc với dòng nước.

Nhịp sống theo mùa lúa. Mùa nước lên thì sạ, cấy; mùa nước rút thì gặt; sau gặt, ghe lúa nối đuôi nhau theo kênh ra các chợ lúa và nhà máy xay ở đầu mối. Những ngày ấy kênh đông nghẹt ghe, chợ ven kênh họp suốt ngày. Nhiều ông bà ở miền Tây còn nhớ cảnh ghe chài chở lúa thả trôi theo con nước ròng về Cần Thơ, Sa Đéc, Chợ Lớn.

Cuộc sống của tá điền không dễ: tiền thuê ruộng nặng, vay lúa ăn giáp hạt rồi trả gấp lên khi gặt, gặp năm mất mùa là nợ chồng nợ. Văn học Nam Bộ đầu thế kỷ 20 ghi lại nhiều số phận như vậy. Đây là mặt sau của bức tranh vựa lúa, cần được kể cạnh những con số lúa gạo xuất khẩu. Nhiều gia đình tá điền phải đổi chỗ ở nhiều lần, mỗi lần đổi là một lần làm lại từ đầu.

Dọc bờ kênh cũng hình thành những nghề phụ: đóng ghe, làm chài lưới, bán tạp hoá trên ghe, xay lúa thuê bằng cối tay rồi máy xay nhỏ. Mỗi ngã ba kênh có tiệm, có quán, có đình, có chùa. Những gia đình đến sớm dần có ruộng riêng, nhà ngói; gia đình đến sau làm thuê, rồi lại đi tiếp vào vùng sâu hơn khi có con kênh mới được đào. Dòng người cứ thế đi theo xáng, từ vùng gần sông Hậu xuống tận mũi Cà Mau.

Lúa gạo Nam Kỳ và con đường ra cảng

Kênh xáng gắn chặt với một chuỗi buôn bán lúa gạo. Ở đầu chuỗi là ruộng của điền chủ và tá điền; tiếp đến là các thương lái đi ghe thu mua lúa ở từng vàm kênh; rồi các nhà máy xay ở Cần Thơ, Sa Đéc và nhất là Chợ Lớn; cuối cùng là cảng Sài Gòn, nơi gạo được xuất đi các nước châu Á. Mỗi con kênh mới nối thêm một vùng ruộng vào chuỗi ấy.

Theo nhiều nghiên cứu về kinh tế Nam Kỳ thời thuộc địa, diện tích trồng lúa và lượng gạo xuất khẩu tăng rất mạnh trong khoảng từ cuối thế kỷ 19 đến cuối thập niên 1920, và mạng lưới kênh đào được coi là một nguyên nhân chính. Con số cụ thể khác nhau giữa các nguồn, nhưng xu hướng thì các tài liệu đều thống nhất: Nam Kỳ trở thành một trong những vùng xuất khẩu gạo lớn của châu Á thời ấy.

Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đầu thập niên 1930 làm giá lúa sụt mạnh, nhiều điền chủ vỡ nợ, tá điền lâm cảnh túng quẫn, việc đào kênh mới cũng chậm hẳn. Đây là lời nhắc rằng vựa lúa dựa vào xuất khẩu luôn chịu tác động của thị trường bên ngoài — một bài học kinh tế mà người làm lúa miền Tây hôm nay vẫn còn thấy.

Trước và sau khi có kênh xáng: một vùng đất thay đổi

Bảng dưới đây so sánh khái quát một vùng đồng trũng phía tây sông Hậu trước và sau khi có kênh xáng, dựa trên mô tả chung của các tài liệu địa phương:

Khía cạnhTrước khi có kênhSau khi có kênh
Đi lạiTheo rạch tự nhiên quanh co, mùa khô cạnGhe lớn đi thẳng, quanh năm
Dân cưRải rác ven rạch, trên giồngDồn về bờ kênh, nhà thẳng hàng
RuộngTừng khoảnh nhỏ gần nướcDải dài vuông góc với kênh, rộng hàng trăm mẫu
NướcPhụ thuộc mưa và lũ, nhiều vùng chua phènCó nước sông dẫn vào, thau chua dần
Buôn bánGhe nhỏ, chợ ven sông lớnChợ ở ngã ba, ngã tư kênh; ghe chài chở lúa

Sự thay đổi không đều giữa các nơi. Vùng gần sông Hậu, phù sa nhiều, đổi nhanh; vùng sâu trong U Minh, đất than bùn và phèn nặng, nhiều nơi tới cuối thế kỷ 20 vẫn còn rừng tràm và đồng hoang.

Kênh xáng để lại gì cho miền Tây hôm nay

Bộ khung của mạng lưới thuỷ lợi. Nhiều tuyến kênh xáng đầu thế kỷ 20 vẫn là trục chính của hệ thống kênh mương hiện nay, được nạo vét, mở rộng qua nhiều thời kỳ. Khi xem bản đồ thuỷ lợi miền Tây hôm nay, những đường thẳng dài nhất thường là kênh đào từ thời xáng.

Kiểu làng dài theo kênh. Cảnh nhà nối nhau hàng chục cây số dọc bờ, phía sau là ruộng, là di sản trực tiếp của cách khai phá theo kênh. Đường bộ về sau cũng thường chạy trên chính bờ xáng.

Các thị tứ ở ngã ba, ngã bảy. Chợ nổi và thị trấn ở những nơi nhiều kênh gặp nhau, như vùng Ngã Bảy, ra đời từ chính mạng lưới kênh đào ấy.

Một vốn địa danh riêng. Những cái tên Kinh Xáng, Xáng Cụt, Thứ Ba, Thứ Mười Một, Kinh Ngang, Kinh Cụt là cuốn sổ ghi lịch sử khai phá bằng chính tên đất, rất đáng giữ khi đặt tên đường, tên trường.

Bài học về đất phèn. Đất xáng thổi lên từ đáy kênh có khi đem phèn từ tầng sâu ra, làm chua vùng ven bờ. Kinh nghiệm ấy góp phần cho hiểu biết sau này: đào kênh trên đất phèn phải tính độ sâu và cách xử lý đất đào.

Câu hỏi thường gặp

Kênh xáng là gì?

Kênh xáng là kênh đào bằng xáng, tức máy đào chạy hơi nước đặt trên thân nổi, múc bùn đáy đổ sang bờ. Người miền Tây gọi như vậy để phân biệt với kênh đào tay. Kênh xáng được đào nhiều từ cuối thế kỷ 19 đến nửa đầu thế kỷ 20.

Kênh Xà No được đào năm nào?

Tư liệu thường ghi kênh Xà No được đào bằng xáng trong khoảng năm 1901 đến 1903, nối sông Hậu ở vùng Cần Thơ với vùng Vị Thanh. Con kênh mở ra vùng lúa rộng ở Hậu Giang cũ, nay thuộc thành phố Cần Thơ.

Vì sao miền Tây có địa danh Thứ Ba, Thứ Bảy, Thứ Mười Một?

Các địa danh này ở vùng ven biển Tây từ Rạch Giá xuống U Minh, bắt nguồn từ các con rạch, con kênh đổ ra biển được gọi theo số thứ tự. Xóm mọc lên bên dòng nào thì mang tên dòng ấy, nên tên gọi theo số được giữ đến nay.

Đất xáng thổi là gì?

Đất xáng thổi là lớp đất bùn đáy mà xáng múc lên đổ thành bờ cao hai bên kênh. Đất này cao, không ngập nên dùng làm nền nhà, làm đường, nhưng những năm đầu khó trồng vì nhiều sét và có thể lẫn phèn từ tầng sâu.

Kênh xáng có vai trò gì với lúa gạo Nam Kỳ xưa?

Kênh xáng mở vùng đất trũng cho trồng lúa và tạo đường chở lúa ra các chợ lúa, nhà máy xay ở Cần Thơ, Chợ Lớn. Nhờ đó, lúa gạo Nam Kỳ đầu thế kỷ 20 trở thành hàng xuất khẩu quan trọng, bên cạnh đời sống khó khăn của nhiều tá điền.

Có còn thấy xáng múc ngày xưa không?

Những chiếc xáng hơi nước đời đầu nay hầu như không còn hoạt động. Thứ còn lại rõ nhất là chính các con kênh, những bờ xáng đã thành đường làng và các địa danh mang chữ xáng trải khắp miền Tây.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.